Báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh năm 2018; Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh năm 2019, tỉnh Điện Biên.

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ  XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG - AN NINH NĂM 2018

Năm 2018, là năm thứ 3 thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và Kế hoạch 5 năm 2016-2020, là năm bản lề có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ cả giai đoạn 2016-2020. Bối cảnh nền kinh tế thế giới được dự báo là tiếp tục phục hồi và tăng trưởng, đất nước đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi mới để phát triển nhanh và bền vững hơn trong thời gian tới. Tỉnh tiếp tục nhận được sự quan tâm từ Trung ương, với nguồn lực đầu tư thông qua các chương trình, dự án được tăng cường; nguồn lực đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân có sự tăng trưởng cao có tác động tích cực đến tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ổn định, đời sống nhân dân được nâng lên; vai trò của Cấp ủy, Chính quyền tiếp tục được củng cố, tăng cường từ đó tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn, thách thức cơ bản như chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp, nguồn lực đầu tư còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu; thu nhập bình quân đầu người thấp, việc làm thiếu tính ổn định; năng lực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch của một số bộ phận lãnh đạo còn thấp; năng lực của một số nhà đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu; người dân còn có sự trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, năng lực cạnh tranh thấp.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự phối hợp của Thường trực HĐND tỉnh, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể tỉnh; UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và đề ra các nhiệm vụ giải pháp điều hành phù hợp, qua đó đã đạt được những kết quả tích cực, cụ thể như sau:

A. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I. Lĩnh vực kinh tế

Dự ước tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh GRDP (giá so sánh năm 2010) đạt 10.482 tỷ 240 triệu đồng, tăng 7,15% so với thực hiện năm 2017, đạt mục tiêu Nghị quyết HĐND tỉnh và kế hoạch đề ra. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản tăng 4,98%; công nghiệp - xây dựng tăng 9,52%; dịch vụ tăng 7,11%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp tăng 4,86%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng xác định, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 19,96%, giảm 1,23%; công nghiệp - xây dựng chiếm 22,82%, tăng 0,34%; dịch vụ chiếm 54,61%, tăng 0,86% (so với năm 2017); thuế sản phẩm trừ trợ cấp chiếm 2,62%, tăng 0,03%. GRDP bình quân đầu người (giá hiện hành) ước đạt 27,31 triệu đồng/người/năm, tăng 12,14% so với thực hiện năm 2017. Kết quả thực hiện của các ngành, lĩnh vực như sau:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản

1.1. Cây lương thực

Tổng sản lượng lương thực ước đạt 264.601 tấn, tăng 6.394 tấn so với cùng kỳ năm trước và đạt 102,16% kế hoạch cả năm, cụ thể như sau:

- Diện tích lúa: Gieo cấy ước đạt 51.303 ha, tăng 2,27% so với cùng kỳ năm trước, đạt 102,29% kế hoạch năm; sản lượng ước đạt 185.349 tấn, tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước; đạt 103,55% so với kế hoạch năm, trong đó: Lúa đông xuân:  Diện tích gieo cấy ước đạt 9.330 ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, đạt 101,61% kế hoạch năm; sản lượng ước đạt 55.207 tấn, tăng 1.979 tấn so với năm trước, đạt 102,35% kế hoạch; Lúa mùa: Diện tích gieo cấy ước đạt 18.726 ha, tăng 5,16% so với cùng kỳ năm trước, đạt 103,92% so với kế hoạch năm; Sản lượng ước đạt 95.766 tấn, tăng 4.813 tấn so với năm trước đạt 104,45% so với kế hoạch năm; Lúa nương: Diện tích gieo trồng ước đạt 23.247 ha, đạt 101,29 % kế hoạch năm, giảm 31,5 ha so với thực hiện năm 2017; sản lượng ước đạt 34.376 tấn, tăng 441 tấn so với năm trước, đạt 103,10% kế hoạch.

- Diện tích ngô: Gieo trồng ước đạt 29.765 ha, giảm 2,71% so với năm trước, đạt 97,24% kế hoạch năm; năng suất bình quân ước đạt 26,63 tạ/ha; sản lượng ước đạt 79.251 tấn, giảm 1,05% so với năm trước, đạt 98,06% kế hoạch năm.  

1.2. Cây công nghiệp

- Cây công nghiệp ngắn ngày: Chủ yếu tập trung trồng một số loại như: Cây đậu tương, với diện tích gieo trồng 2.989 ha, năng suất bình quân ước đạt 13,53 tạ/ha, sản lượng ước đạt 4.044 tấn; cây lạc, với diện tích gieo trồng 1.467 ha, năng suất bình quân ước đạt 13,11 tạ/ha; sản lượng ước đạt 1.922 tấn; diện tích 02 loại cây trồng này đều giảm so với cùng kỳ năm trước do người dân đã chuyển sang trồng các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn như cây ngô, cây ăn quả... 

- Cây công nghiệp dài ngày: Diện tích cao su ước đạt 5.127 ha, giảm 46 ha so với năm trước, sản lượng mủ khô ước đạt 999,6 tấn. Diện tích cà phê ước đạt 3.994,22 ha (trồng mới 75,6 ha), bằng 100,38% so với kế hoạch giao; sản lượng ước đạt 3.313 tấn, đạt 54,27% so với kế hoạch năm[1]. Diện tích chè búp ước đạt 597 ha, đạt 100,33% so với kế hoạch, sản lượng búp tươi ước đạt 75,6 tấn, đạt 79,58% kế hoạch. Cây Mắc ca đã được triển khai trồng trên diện rộng theo quy hoạch được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt, đến nay trên địa bàn tỉnh đã trồng được 2.168,7 ha (trong đó: trồng thuần 1.625,4 ha, trồng xen canh 543,3 ha), tập trung chủ yếu tại các huyện Tuần Giáo, Mường Ảng, Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ, sản lượng quả tươi ước đạt 9,4 tấn; đang hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục để triển khai trồng cây Mắc ca trên địa bàn các huyện Mường Nhé, Nậm Pồ, Điện Biên.

1.3. Chăn nuôi: Kết quả điều tra chăn nuôi trong tỉnh ước tính đến hết năm 2018, tổng đàn gia súc (trâu, bò, lợn) ước đạt 581.464 con, tăng 1,88% so với năm trước, đạt 97,8% kế hoạch năm (trong đó: Đàn trâu 128.646 con, tăng 2,63% so với năm trước và đạt 101,37% kế hoạch; đàn bò có 68.441 con, tăng 10,61% so cùng kỳ năm trước và đạt 104,90% kế hoạch; đàn lợn có 384.377 con, tăng 0,23% so với năm trước và đạt 95,54% kế hoạch). Đàn gia cầm 3.839.167 con tăng 0,45% so với năm trước và đạt 95,00% kế hoạch năm.

1.4. Thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản hết năm 2018 ước đạt 2.243,4 ha, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước và đạt 100,06% kế hoạch giao. Sản lượng thủy sản ước đạt 3.069,29 tấn, tăng 9,31% so với cùng kỳ năm trước, đạt 103,55% kế hoạch.

1.5. Lâm nghiệp: Diện tích rừng tập trung tại các địa phương đã trồng và chăm sóc ước đạt 1.542 ha (rừng phòng hộ 533 ha; rừng sản xuất 1.009 ha), tăng 52,76% so với cùng kỳ năm trước, đạt 50,51% kế hoạch; diện tích rừng giao khoán khoanh nuôi tái sinh ước đạt 10.789 ha, tăng 42,55% so với cùng kỳ năm trước đạt 41,3% kế hoạch giao [2]. Tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 39,74% tăng 0,73% so với năm 2017.

1.6. Thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp: Đã tổ chức hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2015-2017; đồng thời ban hành Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Điện Biên đến năm 2020 để tổ chức, triển khai thực hiện. Đến nay, đã phê duyệt và chỉ đạo tổ chức thực hiện thành công 02 dự án cánh đồng lớn với quy mô 92 ha (do Hợp tác xã DVTH Thanh Yên thực hiện 70 ha; Hợp tác xã Công nghệ cao bản Mé - Thanh Hưng thực hiện 22 ha); đang thực hiện thí điểm dồn điền, đổi thửa tại xã Thanh Yên và Thanh Hưng để tổ chức sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng lớn với tổng diện tích 63 ha. Sản phẩm gạo đã được chứng nhận theo chuỗi, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng thời đã đăng ký quét mã truy xuất nguồn gốc (mã QR) giúp kiểm soát được sản phẩm chính hãng do hợp tác xã cung cấp, góp phần vào việc nâng cao chất lượng, thương hiệu gạo Điện Biên.

Đã thu hút được các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông lâm nghiệp của tỉnh, trên các lĩnh vực: chăn nuôi, thủy sản, cây ăn quả,... với một số dự án điển hình đã được triển khai như Dự án trồng cây ăn quả bằng công nghệ cao, kết hợp trồng rừng sản xuất tại xã Búng Lao, huyện Mường Ảng; Dự án sản xuất lúa gạo Điện Biên theo chuỗi giá trị gia tăng; Dự án Trang trại nuôi cá nước lạnh thương phẩm và trồng cây dược liệu, rau sạch; Dự án trại chăn nuôi lợn chất lượng cao Quang Lành; Dự án đầu tư xây dựng "Khu chế biến nông sản và Trại chăn nuôi lợn siêu nạc" của Doanh nghiệp tư nhân thương mại Huy Toan,... Đã phê duyệt Quyết định chủ trương đầu tư cho Dự án trồng Mắc ca công nghệ cao tại huyện Mường Nhé và dự án Trồng Mắc Ca kết hợp với trồng rừng, Dược liệu và xây dựng khu chế biến sản phẩm tại xã Phu Luông, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

2. Sản xuất công nghiệp, xây dựng

2.1. Về sản xuất công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 2.717,43 tỷ đồng (giá 2010), tăng 12,95% so với năm 2017. Trong đó: Công nghiệp Khai thác ước đạt 137,2 tỷ đồng, tăng 5,68%; Công nghiệp chế biến đạt 2.103,3 tỷ đồng, tăng 10,4%; Sản xuất, phân phối điện đạt 434,4 tỷ đồng, tăng 31,25%; Sản xuất xi măng đạt 264,154 nghìn tấn, tăng 11,32%; Cung cấp nước và xử lý rác thải đạt 42,6 tỷ đồng, tăng 6,6% so với năm 2017; các sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Đã tập trung chỉ đạo rà soát tiến độ các dự án thủy điện trong quy hoạch và dự án thủy điện có tiềm năng trên địa bàn tỉnh để có giải pháp đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư trong thời gian tới; đôn đốc đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án thủy điện đã phê duyệt chủ trương đầu tư, tiếp tục lựa chọn nhà đầu tư khảo sát, lập dự án các thủy điện trên địa bàn tỉnh [3]; đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các dự án thủy điện Sông Mã 2, Na Son, Long Tạo, Nậm Pay và Huổi Vang; Hoàn thiện hồ sơ để khởi công xây dựng các dự án thủy điện Mường Mươn, Huổi Chan 1, Mùn Chung 2 và các dự án đã được cấp chủ trương đầu tư. Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch, thực hiện các thủ tục để đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp đã được quy hoạch trên địa bàn tỉnh.    

2.2. Về xây dựng: Tổ chức lập Đồ án quy hoạch xây dựng và quy hoạch đô thị[4]; đồng thời rà soát để điều chỉnh, bổ sung một số quy hoạch đã phê duyệt[5] làm cơ sở để quản lý đầu tư, quản lý trật tự xây dựng theo quy hoạch và thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế tham gia xây dựng các Dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Trong năm 2018 đã thu hút được các nhà đầu tư quan tâm một số dự án trọng điểm trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ như Dự án đầu tư xây dựng đường Thanh Minh - đồi Độc Lập và khu dân cư (đường vành đai phía bắc), thành phố Điện Biên Phủ; dự án Khu tái định cư các hộ dân đường 15m từ cầu A1 xuống cầu C4; Bến xe khách tại xã Thanh Minh và Bến xe khách tại phường Thanh Trường thành phố Điện Biên Phủ và tổ chức lập Phương án đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để giao đất đầu tư xây dựng Trung tâm thương mại và Nhà ở thương mại thành phố Điện Biên Phủ. Đẩy mạnh công tác tổ chức triển khai thực hiện Đề án phát triển hệ thống đô thị tỉnh Điện Biên giai đoạn 2016-2020, trong đó đã quyết định công nhận loại V cho đô thị thị trấn: Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Ảng và tập trung Dự án đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng để góp phần nâng cấp thành phố Điện Biên Phủ trở thành đô thị loại II.

Triển khai thực hiện Chỉ thị của Tỉnh ủy về nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý, khai thác, bảo trì công trình đường bộ và chất lượng xây dựng công trình đối với các tuyến đường địa phương trên địa bàn tỉnh Điện Biên để tăng cường trách nhiệm các ngành, các cấp trong quản lý công trình đường bộ. Công tác sữa chữa, bảo trì các đường Quốc lộ, tỉnh lộ tiếp tục được quan tâm đầu tư, qua đó đã sửa chữa, cải tạo được 61,4Km đường Quốc lộ, khắc phục 30/50 vị trí điểm đen, đưa vào sử dụng 14 cầu dân sinh; Giá trị sản sản xuất xây dựng năm 2018 ước trên địa bàn tỉnh đạt 6.963 triệu đồng, tăng 6,68% so với năm 2017.

3. Khu vực thương mại, dịch vụ

- Hoạt động thương mại: Tình hình lưu thông hàng hoá và dịch vụ thương mại trong năm 2018 phát triển ổn định. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 11.142 tỷ đồng, tăng 16,97% so với năm 2017, đạt 100,83% kế hoạch.

- Dịch vụ du lịch: Dự ước năm 2018 đón khoảng 705 ngàn lượt khách, đạt 103,7% kế hoạch năm, tăng 17,5% so với năm 2017; trong đó khách quốc tế ước đạt 151 ngàn lượt, đạt 100,07% kế hoạch năm, tăng 25,8% so với năm trước. Tổng thu từ hoạt động du lịch ước đạt trên 1.155 tỷ đồng, đạt 104,7% kế hoạch năm, tăng 21,6% so với năm 2017. Số ngày lưu trú bình quân khách nội địa và quốc tế đạt 2,4 ngày/người (đạt 100% kế hoạch năm, tăng 4,3% so với năm 2017). Du lịch đã giải quyết việc làm cho trên 14 ngàn lao động trong toàn tỉnh, trong đó có khoảng 6 ngàn lao động trực tiếp và 8 ngàn lao động gián tiếp.

- Dịch vụ vận tải hàng hóa và hành khách: Ước đến hết năm 2018, khối lượng vận chuyển hành khách đạt 1.502 nghìn lượt người, tăng 122,38 % so với cùng kỳ năm trước, đạt 100,13% so với kế hoạch; hành khách luân chuyển 290,7 triệu lượt HK.Km, tăng 116% so với cùng kỳ năm trước, đạt 100,3% so với kế hoạch. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 3.656 nghìn tấn, tăng 111,9% so với cùng kỳ năm trước, đạt 100,18% so với kế hoạch; khối lượng luân chuyển hàng hóa đạt 160,4 triệu T.Km, tăng 117,6% so với cùng kỳ năm trước, đạt 100,31% so với kế hoạch.   

- Lĩnh vực Bưu chính Viễn thông: Hạ tầng bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh truyền hình tiếp tục được mở rộng; đến nay đã có 130/130 xã, phường, thị trấn được phủ sóng di động 3G; 100% địa bàn các huyện và cơ quan Nhà nước được kết nối Internet tốc độ cao.

4. Về Xuất nhập khẩu

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đến hết năm 2018 ước đạt 44 triệu USD, đạt  100% kế hoạch năm, tăng 12,82% so với cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu hàng địa phương ước đạt 21,6 triệu USD. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu gồm: Xi măng Điện Biên, vật liệu xây dựng, hàng hóa khác....

- Tổng kim ngạch nhập khẩu đến hết năm 2018 ước đạt 23 triệu USD bằng 100% kế hoạch năm,  bằng cùng kỳ năm trước; trong đó nhập khẩu địa phương ước đạt 10 triệu USD. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, cơ điện phục vụ cho xây dựng thủy điện, nông lâm sản và một số hàng hóa khác.

 5. Hoạt động Tài chính - Ngân hàng

a) Về giá cả và kiểm soát lạm phát: Với việc thực hiện các nhóm giải pháp cụ thể trong thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt; quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tiền tệ, lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước, giá cả hàng hóa trên thị trường tương đối ổn định, không có tăng giá đột biến.

b) Về tiền tệ, tín dụng: Hoạt động tài chính, ngân hàng được quản lý chặt chẽ, đúng quy định, bám sát chỉ đạo điều hành của Chính phủ. Tổng nguồn vốn huy động của các ngân hàng ước đạt đến 31/12/2018 là 9.630 tỷ đồng, tăng 10,35% so với năm 2017. Tổng dư nợ tín dụng ước thực hiện đến 31/12/2018 là 18.915 tỷ đồng, tăng 17,7% so năm trước; Nợ xấu ước thực hiện đến 31/12/2018 là 214 tỷ đồng chiếm 1,13% tổng dư nợ. Tỉnh tiếp tục tạo điều kiện để các Ngân hàng thương mại mở các chi nhánh trên địa bàn tỉnh, qua đó tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp được tiếp cận nhiều hơn với các nguồn vốn đầu tư.

c) Về thu chi ngân sách nhà nước: UBND tỉnh đã chủ động rà soát xây dựng và ban hành các quy định, định mức theo thẩm quyền cho phù hợp điều kiện thực tế của địa phương, tích cực chỉ đạo điều hành quyết liệt dự toán ngân sách nên đã thu được những kết quả tích cực, dự ước tổng thu ngân sách địa phương năm 2018 là 9.591 tỷ 919 triệu đồng, đạt 105,04% dự toán. Thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 1.144 tỷ 494 triệu đồng, đạt 106,16% dự toán giao. Trong đó thu nội địa ước thực hiện 1.091 tỷ 400 triệu đồng.

Các khoản chi ngân sách thực hiện tiết kiệm, đúng chính sách, các khoản chi đột xuất cho các nhiệm vụ quốc phòng an ninh, an sinh xã hội đảm bảo kịp thời. Dự ước tổng chi ngân sách địa phương là 9.359 tỷ 427 triệu đồng, đạt 103,29% dự toán, trong đó, trong đó: Chi thường xuyên 6.480 tỷ 905 triệu đồng, đạt 105,24% dự toán; Chi đầu tư phát triển 822 tỷ 731 triệu đồng, đạt 116,51% dự toán.

6. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn đạt 10.237,7 tỷ đồng tăng 25,27% so với năm 2017 đạt 100,9% so với kế hoạch, trong đó:

6.1. Vốn Trung ương quản lý: Nguồn vốn do Trung ương quản lý 2.624,25 tỷ đồng tăng 6,48% so với năm 2017 và đạt 100% KH.

6.2. Vốn địa phương quản lý: Tổng kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN năm 2018 do địa phương quản lý là 2.514.544 triệu đồng (Vốn 2017 được phép kéo dài sang 2018 là 241.045 triệu đồng). Lũy kế số giải ngân đến ngày 31/10/2018 là 1.323.520 triệu đồng, đạt 52,63% so với kế hoạch vốn giao, Ước giải ngân đến 31/12/2018 đạt 2.388.656 triệu đồng, đạt 95% KH vốn giao, cụ thể như sau:

a) Nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương: Tổng số vốn đầu tư phát triển nguồn cân đối ngân sách địa phương năm 2018 là 643.367 triệu đồng (Vốn 2017 được phép chuyển sang 2018 là 14 tỷ 837 triệu đồng). Lũy kế số vốn đã giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/10/2018 là 435.633 triệu đồng, đạt 67,7% kế hoạch vốn. Ước giải ngân đến 31/12/2018 đạt 643.367 triệu đồng, đạt 100% KH vốn giao.

b) Nguồn vốn ngân sách trung ương

- Vốn đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2018 là 445.776 triệu đồng (Vốn kéo dài 2017 được phép kéo dài sang 2018 là 31.607 triệu đồng). Lũy kế số vốn đã giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/10/2018 là 252.585 triệu đồng, đạt 56,66% kế hoạch vốn. Ước giải ngân đến 31/12/2018 đạt 423.487 triệu đồng, đạt 95% KH vốn giao.

- Vốn đầu tư theo các Chương trình mục tiêu năm 2018 là 304.059 triệu đồng. Lũy kế số vốn đã giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/10/2018 là 195 tỷ 300 triệu đồng, đạt 64,23% kế hoạch vốn. Ước giải ngân đến 31/12/2018 đạt 294.059 triệu đồng, đạt 96,7% KH vốn giao.

- Vốn đầu tư Chương trình hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTG năm 2018 là 41.100 triệu đồng. Giải ngân đến 31/10/2018 là 28.826 triệu đồng đạt 70,14% kế hoạch vốn. Ước giải ngân đến 31/12/2018 đạt 41.100 triệu đồng, đạt 100% KH vốn giao.

- Vốn trái phiếu Chính phủ năm 2018 là 809.083 triệu đồng (Vốn 2017 được kéo dài sang 2018 là 116 tỷ 043 triệu đồng). Lũy kế số vốn đã giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/10/2018 là 335.879 triệu đồng, đạt 41,51% kế hoạch vốn. Ước giải ngân đến 31/12/2018 đạt 742.599 triệu đồng, đạt 91,8% KH vốn giao.

- Vốn nước ngoài năm 2018 là 271.159 triệu đồng. Lũy kế số vốn đã giải ngân từ đầu năm đến ngày 31/10/2018 là 75.298 triệu đồng, đạt 27,77% kế hoạch vốn. Ước giải ngân đến 31/12/2018 đạt 244.043 triệu đồng, đạt 90% KH vốn giao.

6.3. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Ước thực hiện năm 2018 là 2,65 tỷ đồng, đạt 3,9% Kế hoạch.

6.4. Vốn ngoài Nhà nước và khu vực DNTN: Ước thực hiện đạt 5.096,3 tỷ đồng, tăng 53% so với cùng kỳ năm trước, đạt 98,37% Kế hoạch.

7. Triển khai các dự án trọng điểm của tỉnh năm 2018

a) Dự án bổ sung đoạn tuyến từ Đường Võ Nguyên Giáp đến khu TĐC Noong Bua (Đường 60m): Khối lượng thực hiện cho công tác xây lắp đến thời điểm hiện tại ước đạt 27,6% và giải ngân được 34,33% (bao gồm cả chi trả cho công tác GPMB). Đã sửa đổi bổ sung chính sách đặc thù cụ thể cho phù hợp với thực tế để tháo gỡ khó khăn trong công tác bồi thường, GPMB và tạm ứng ngân sách địa phương để triển khai thực hiện dự án theo quyết định phê duyệt; định kỳ mỗi tháng 02 lần UBND tỉnh tổ chức làm việc với các ngành đơn vị có liên quan để kiểm tra tiến độ và đôn đốc triển khai dự án. UBND tỉnh đã báo cáo, kiến nghị và được Thủ tướng Chính phủ cho phép sử dụng nguồn vốn khấu hao của Tập đoàn Điện lực để tiếp tục đầu tư và thanh toán khối lượng hoàn thành cho dự án tại Thông báo số 422/TB-VPCP ngày 09/11/2018.

b) Dự án Hạ tầng kỹ thuật khung: Khối lượng thực hiện cho công tác xây lắp đến thời điểm hiện tại ước đạt 56% và giải ngân được 34,33% (bao gồm cả chi trả cho công tác GPMB). Đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB hỗ trợ tái định cư, lồng ghép sử dụng các nguồn vốn và tạm ứng ngân sách địa phương cho dự án góp phần  đẩy nhanh tiến độ thi công các điểm Tái định cư dự án theo tiến độ đã phê duyệt.

c) Đề án sắp xếp, ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé: Cơ bản bố trí sắp xếp, ổn định tại chỗ cho các hộ dân thuộc các điểm bố trí ổn định tại chỗ đã có đất ở và đất sản xuất thuộc điểm bản sắp xếp ổn định tại chỗ (159 điểm bản); di chuyển và bố trí, sắp xếp ổn định cho 1.647 hộ để thành lập 32 bản mới và bố trí xen ghép vào 6 bản đã ổn định (đạt trên 90% số hộ di chuyển theo các phương án được phê duyệt và mục tiêu Đề án theo Quyết định 79/QĐ-TTg). Đến nay, cùng với việc bố trí sắp xếp thành lập các bản mới, tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị ở cơ sở từng bước được kiện toàn[6], tình hình trật tự - an toàn xã hội từng bước được ổn định. Tiếp tục hoàn thiện các công trình kết cấu hạ tầng, triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ, ổn định đời sống sản xuất cho người dân, xây dựng kế hoạch triển khai các nội dung, nhiệm vụ theo Đề án điều chỉnh, bổ sung theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. UBND tỉnh đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành trung ương xem xét, bố trí nguồn vốn thực hiện Đề án theo quyết định điều chỉnh được phê duyệt.

d) Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới: Tổ chức Hội nghị sơ kết Chương trình xây dựng nông thôn mới 3 năm giai đoạn 2016-2018 để đánh giá làm rõ những tồn tại hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm, tổ chức ký cam kết thi đua xây dựng nông thôn mới giữa Ban Chỉ đạo các Chương trình MTQG tỉnh với lãnh đạo UBND các huyện, thị xã, thành phố; xây dựng và ban hành Kế hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.

Tiếp tục triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tất cả các xã của tỉnh; duy trì giữ vững, nâng cao các tiêu chí đối với 13 xã đã có Quyết định được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới[7] và 3 xã cơ bản đạt chuẩn năm 2017. Phấn đấu đến hết năm 2018 có thêm 6 xã đạt chuẩn và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới toàn tỉnh lên 22 xã. Số tiêu chí đạt bình quân các xã 8,33 tiêu chí/xã, số xã dưới 05 tiêu chí đến hết năm 2018 giảm còn 18 xã.

đ) Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững: Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn cấp xã triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo. Triển khai có hiệu quả các dự án về truyền thông, tăng cường kiểm tra, giám sát đánh giá để đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình; chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo trên địa bàn, tạo sự chuyển biến tích cực về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân tộc trên địa bàn các huyện và các xã thuộc diện được hỗ trợ từ chương trình MTQG giảm nghèo bền vững.

e) Đường Na Sang (Km146+200/QL.12) - TT xã Huổi Mí - Pú Xi - Nậm Mức (Km450/QL.6) - Km456/QL.6 - Thị trấn Tủa Chùa - Huổi Lóng, tỉnh Điện Biên (Phân đoạn TT. Tủa Chùa - Nậm Mức - Huổi Mí): Đã hoàn thành công tác lựa chọn nhà thầu các gói thầu xây lắp; tiếp tục đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng, chỉ đạo chủ đầu tư phối hợp với các đơn vị liên quan lập hồ sơ chuyển đổi mục đích rừng và đất lâm nghiệp hoàn thiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi giao đất, tạo mặt bằng sạch để triển khai công tác thi công các gói thầu, đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân theo đúng kế hoạch đã được duyệt.

f) Các dự án thực hiện theo hình thức PPP: Đã phê duyệt Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu dân cư hai bên tuyến đường Thanh Minh - Đồi Độc Lập thành phố Điện Biên Phủ; tiếp tục kiến nghị xin ý kiến xử lý các tồn tại, vướng mắc để chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng Đường Thanh Minh - đồi Độc Lập và khu dân cư (đường vành đai phía Bắc), thành phố Điện Biên Phủ; dự án Khu tái định cư các hộ dân đường 15m từ cầu A1 xuống cầu C4 - thành phố Điện Biên Phủ) và dự án Chợ thị trấn Tuần Giáo.

g) Các Đề án, dự án đăng ký báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư TW Đảng:

- Đề án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ đến năm 2030. Hiện nay dự thảo Đề án đang được tiếp tục hoàn thiện để báo cáo Thường trực Tỉnh ủy trước khi báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị và Ban Bí thư.

- Dự án Khu lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Mường Phăng và Đền thờ tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ tại đồi F. Đã hoàn thành việc xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ và đang hoàn thiện tham mưu cho Thường trực Tỉnh ủy báo cáo, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng cho chủ trương để có cơ sở triển khai các bước tiếp theo theo quy định.

h. Đối với Đề án “Ổn định dân cư, phát triển kinh tế xã hội vùng tái định cư thủy điện Sơn La”:

UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND các huyện, thị xã, thành phố trong vùng Đề án rà soát nội dung đầu tư hỗ trợ và các dự án thành phần để hoàn thiện kế hoạch triển khai thực hiện đề án và báo cáo xin chủ trương của Thường Trực Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy để triển khai thực hiện theo quy định. Đồng thời chủ động tổng hợp nhu cầu vốn giai đoạn 2018 - 2020, báo cáo Thủ tướng Chính phủ bố trí kinh phí để triển khai thực hiện.

 i) Triển khai thực hiện quy hoạch Cảng hàng không Điện Biên: Đã triển khai thực hiện công bố quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Điện Biên giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; ban hành văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường công tác quản lý đất đai nằm trong vùng quy hoạch sân bay; khảo sát tổng hợp nhu cầu GPMB và lựa chọn địa điểm quy hoạch khu Tái định cư. Phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, cùng làm việc với nhà đầu tư VietJet để hoàn thiện nội dung phương án đề xuất đầu tư, hình thức quản lý khai thác làm cơ sở để tổng hợp báo cáo, xin ý kiến các Bộ, ngành liên quan và hoàn chỉnh nội dung trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

k) Chương trình phát triển đô thị vay vốn WB: Chương trình đô thị miền núi phía Bắc - thành phố Điện Biên Phủ được chia làm 2 giai đoạn (giai đoạn 2015-2016 và giai đoạn 2017-2020). Tổng vốn đầu tư 652,725 tỷ đồng, trong đó vốn ODA 536,805 tỷ đồng, vốn đối ứng 115,920 tỷ đồng. Đã thi công hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng, phát huy hiệu quả đầu tư 3/3 hạng mục thuộc giai đoạn 1 (hạng mục Xây dựng cầu vào xã Thanh Minh, nạo vét xây cải tạo suối C13 và Nâng cấp khu LIA1). Giai đoạn 2 của dự án gồm 33 gói thầu và 6 hạng mục; đã hoàn thành toàn bộ công tác lựa chọn nhà thầu và thi công hoàn thành hạng mục nâng cấp khu LIA2, LIA4, LIA5; hạng mục Cải tạo suối Hồng Lứu đang triển khai thi công dự kiến hoàn thành quý IV/2019; 04 hạng mục còn lại (hồ điều hòa sau bệnh viện đa khoa tỉnh, khu tái định cư Him Lam, đường từ cầu A1 đến cầu C4, các công trình hạ tầng xã hội) đang tổ chức thực hiện đền bù GPMB, hỗ trợ TĐC; đã giải ngân được 222/565 (tỷ đồng) đạt 40% kế hoạch.

8. Về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư: Tích cực triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường kinh doanh; rà soát, nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính như công khai, minh bạch các thủ tục hành chính, quy trình, quy định hành chính để doanh nghiệp, cá nhân tiếp cận dễ dàng nhất; đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong đó tập trung vào các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo để tạo động lực, sự đột phá về thu hút đầu tư vào tỉnh. Qua đánh giá của VCCI về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2017 của tỉnh đạt 60,57 điểm, xếp hạng 48/63 tỉnh, thành phố (Tăng 05 bậc so với năm 2016). Chỉ số công khai ngân sách tỉnh (POBI) năm 2017 tỉnh Điện Biên đứng thứ 13/63 tỉnh, thành phố; Chỉ số Cải cách hành chính của tỉnh đạt 24/63, tỉnh thành phố tăng 18 bậc (năm 2016 là 42/63).

Trong năm 2018, đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và quyết định chủ trương đầu tư cho 25 dự án và 04 dự án đang hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng mức đầu tư đăng ký trên 4.900 tỷ đồng. Cấp Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh cho 05 dự án, dự ước năm 2018 có 7 dự án hoàn thành đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư đăng ký 114,8 tỷ đồng. Đến nay trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 150 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 26 nghìn tỷ đồng, (trong đó có 02 dự án trồng Mắc ca công nghệ cao tại huyện Mường Nhé; dự án Trồng Mắc Ca kết hợp với trồng rừng, Dược liệu và xây dựng khu chế biến sản phẩm tại xã Phu Luông và 01 dự án có vốn đầu tư nước ngoài - Nhà máy chế biến tinh bột sắn). UBND tỉnh đã tích cực chỉ đạo các nhà đầu tư và các cơ quan chức năng hoàn tất thủ tục để đẩy nhanh tiến độ thực hiện 03 dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP); đồng thời đang tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư và đã có một số nhà đầu tư lớn đang tham gia nghiên cứu như tập đoàn TH Truemilk, Vietjet, Vingroup, FLC.

9. Về phát triển doanh nghiệp

- Dự ước năm 2018 có 145 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn 950 tỷ đồng; đăng ký thay đổi, bổ sung cho 320 lượt doanh nghiệp. Nâng tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh lên 1.220 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký 20.235 tỷ đồng và 200 chi nhánh, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp ngoài tỉnh đăng ký hoạt động tại địa phương.

- Kinh tế tập thể và hộ kinh doanh tiếp tục được khuyến khích phát triển. Dự ước năm 2018 thành lập mới 20 hợp tác xã với tổng số vốn đăng ký là 200 tỷ đồng. Tổng số hợp tác xã trên địa bàn tỉnh là 196 hợp tác xã với tổng số vốn đăng ký 435 tỷ đồng; thêm 1.100 hộ kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 206 tỷ đồng, nâng tổng số hộ kinh doanh đến lên 17.728 hộ, tổng số vốn đăng ký 2.338 tỷ đồng.

- Công tác thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp và công tác bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp tiếp tục được triển khai thực hiện theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Phấn đấu hoàn thành thoái toàn bộ phần vốn Nhà nước còn lại tại Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Quản lý đường bộ II Điện Biên, thoái bớt một phần vốn tại Công ty cổ phần Giống nông nghiệp Điện Biên và bàn giao được 03 doanh nghiệp là Công ty cổ phần công trình giao thông tỉnh Điện Biên và Công ty cổ phần Tư vấn và Đầu tư xây dựng tỉnh Điện Biên, Công ty cổ phần Lạc Hồng Điện Biên theo kế hoạch năm 2018 về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước

10. Khoa học công nghệ, tài nguyên môi trường

- Các đề tài khoa học và công nghệ đã hướng vào phục vụ phát triển sản xuất và quản lý, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo trong tỉnh; hiệu quả của hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ được nâng cao, có sự gắn bó chặt chẽ hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, đời sống, nhu cầu xã hội, góp phần tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản suất công nhiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ bằng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách tiếp tục được triển khai thực hiện với 28 danh mục đề tài, dự án tiếp chi. Công tác thanh, kiểm tra chất lượng hàng hóa được tăng cường đảm bảo lợi ích của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, tài sản trí tuệ trên địa bàn tỉnh.

- Đã tổ chức triển khai thực hiện Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020) theo Nghị quyết 78/NQ-CP ngày 22/6/2018 của Chính phủ. Trong năm 2018 đã thực hiện thu hồi giao đất tại 9 vị trí với diện tích 51,7 ha; gia hạn sử dụng đất tại 10 vị trí với diện tích 1,88ha; cho 14 tổ chức thuê đất với diện tích 6,46 ha; tiếp tục rà soát, thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính theo hướng giảm các bước, quy trình xử lý công việc, công khai, minh bạch tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Đồng thời tập trung thực hiện tốt nội dung Chỉ thị số 01/CT/TTg ngày 03/01/2018 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý đất đai và xây dựng hệ thống thông tin đất đai; Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 31/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách về bảo vệ môi trường; Triển khai kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn quản lý tài nguyên nước, kế hoạch hành động bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh; công tác thẩm định, phê duyệt và cấp giấy phép về môi trường; công tác khảo sát, thăm dò, đánh giá trữ lượng và quản lý nhà nước về địa chất và khoáng sản đã có nhiều chuyển biến tích cực.

II. Lĩnh vực Văn  hoá - Xã hội

1. Lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cai nghiện ma túy và phòng chống HIV/AIDS:

- Giải quyết việc làm và đào tạo nghề: Năm 2018, ngoài duy trì việc làm thường xuyên cho 326.161 lao động, đã giải quyết việc làm mới cho 9.528 lao động, đạt 110,79%KH/năm tăng so với cùng kỳ năm 2017 là 482 lao động; trong đó: thông qua vay vốn hỗ trợ việc làm cho 1.064 người, xuất khẩu lao động 46 người, tuyển dụng vào các doanh nghiệp là 4.221 người (trong đó, tại các doanh nghiệp ngoài tỉnh là 1.109 người), tuyển dụng vào cơ quan HCSN, đảng, đoàn thể là 368 người, lao động tại các chương trình phát triển kinh tế - xã hội khác và tự tạo việc làm là 3.829 người. Giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống còn 2,75%. Tuyển mới và đào tạo nghề cho 7.995 người, đạt 100% Kế hoạch.

- Các chính sách xã hội như trợ cấp, cứu đói, cấp phát bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách xã hội tiếp tục thực hiện tốt. Năm 2018, đã chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng cho 14.998 đối tượng, tăng 118 đối tượng so với cùng kỳ năm 2017. Trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018 tổ chức thăm hỏi tặng 3.462 suất quà cho gia đình chính sách người có công với số tiền 918,350 triệu đồng; các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh tặng 4.832 suất quà cho các gia đình chính sách người có công với tổng giá trị là 1.360.152 triệu đồng; Tổ chức cấp phát 1.575 tấn gạo cứu đói cho 22.642 hộ với 104.985 nhân khẩu trong đó: Tổ chức cấp phát 402.225 kg gạo cứu đói dứt bữa nhân dịp Tết Nguyên đán năm 2018 cho 6.346 hộ, 26.812 nhân khẩu; cứu đói giáp hạt cho 16.296 hộ (78.173 nhân khẩu với 1.172.595kg gạo).

- Các chương trình, dự án giảm nghèo trên địa bàn được triển khai tích cực. Ước thực hiện năm 2018, tổng số hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 47.911 hộ, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 37,45%, giảm 3.558 hộ và giảm 3,56% so với năm 2017 (MTNQ là giảm từ 41,64% xuống còn 38,1%). Trong đó, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện 30a (nhóm 1) giảm từ 58,58% năm 2017 ước xuống còn 53,49% năm 2018, giảm 5,09% so với thực hiện năm 2017 (MTNQ là giảm 4,12%).

- Về công tác phòng, chống tệ nạn xã hội: Việc điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại 8 cơ sở điều trị và 29 điểm cấp phát thuốc tiếp tục được duy trì thực hiện tốt. Ước năm 2018, số người được điều trị thay thế bằng thuốc Methadone là 3.000 bệnh nhân; tổ chức cai nghiện ma túy cho 977 lượt người. Ước thực hiện năm 2018, có 51 xã, phường lành mạnh không có tệ nạn mại dâm, ma túy, tăng 02 xã so với thực hiện năm 2017 (đạt MTNQ). Tính đến 31/10/2018 có 120/130 xã, phường, thị trấn của 10/10 huyện, thị xã, thành phố có người nhiễm HIV; tổng số tích lũy toàn tỉnh có 7.248 ca nhiễm HIV, trong đó: số mắc mới được phát hiện 170 ca (giảm 68 ca so với cùng kỳ), số nhiễm HIV chuyển giai đoạn AIDS tích lũy 5.315 ca; tử vong do AIDS lũy tích là 3.650 ca, trong đó số bệnh nhân AIDS mới tử vong là 73 ca (tăng 07 ca so với cùng kỳ); số quản lý được 3.422 ca, tỷ lệ người nhiễm HIV còn sống quản lý được 95,1%. Tỷ lệ nhiễm HIV còn sống/dân số 0,59%.

2. Y tế, Dân số kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc trẻ em

- Công tác y tế được duy trì, triển khai có hiệu quả, chất lượng công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tiếp tục được nâng lên. Tình hình dịch bệnh trên địa bàn ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Ước cả năm tổng số lượt khám bệnh ước đạt 995.000 lượt người,  tổng số bệnh nhân điều trị nội trú đạt trên 100.000 lượt và trên 7.500 bệnh nhân điều trị ngoại trú, Công suất sử dụng giường bệnh đạt 100%.

- Công tác truyền thông tuyên truyền về dân số - kế hoạch hóa gia đình tiếp tục được duy trì thường xuyên. Ước thực hiện cả năm: Tỷ lệ sinh 22,9‰, mức giảm tỷ lệ sinh 0,4‰; tỷ lệ các bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên so với tổng số bà mẹ sinh con trong năm là 19%, giảm 0,3% so với cùng kỳ.

- Công tác Bảo vệ và chăm sóc trẻ em được quan tâm, triển khai theo kế hoạch. Ước đến hết năm 2018, trên địa bàn toàn tỉnh còn 2.557 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (số trẻ em có hoàn cảnh đặc biết có sự biến động lớn do có sự thay đổi phương pháp xác định đối tượng theo quy định tại Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 và Nghị định số 56/NĐ-CP ngày 9/5/2017) trong đó 100% trẻ em được trợ giúp từ 3/6 hình thức trợ giúp theo bộ chỉ số về bảo vệ trẻ em của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành. Duy trì việc quản lý cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi.

3. Về Giáo dục - Đào tạo

Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học tiếp tục được quan tâm đầu tư và cải thiện; đặc biệt là giáo dục vùng dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn; tỷ lệ huy động dân số trong độ tuổi đến trường tiếp tục tăng.

- Toàn tỉnh, hiện có tổng số 526 cơ sở giáo dục (gồm có 07 nhóm trẻ và 07 trường, trung tâm ngoài công lập) với 7.102 lớp, 189.283 học sinh, giảm 270 lớp và tăng 3.765 học sinh so với thực hiện năm 2017, đạt 100,42% so với kế hoạch giao;  có 8.985 phòng học (trong đó 62,8% phòng học kiên cố; 24,5% phòng học bán kiên cố và 12,8% phòng học tạm). Số trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia là 312/498 đạt 62,65%.

- Tỷ lệ huy động học sinh đúng độ tuổi đến trường tăng nhẹ ở các cấp học tiểu học và THCS (0,1-0,6%), tăng khá cao ở cấp THPT và tương đương là 5,3%; với 07/09 chỉ tiêu thực hiện vượt so với chỉ tiêu MTNQ như Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp mẫu giáo đạt 99,5% (vượt MTNQ 0,1%); trẻ 6-10 tuổi học tiểu học đạt 99,8% (vượt MTNQ 0,1%); trẻ 11-14 tuổi học THCS đạt 95,3% (vượt MTNQ 0,3%); trẻ 15-18 tuổi học THPT đạt 63,0% (đạt chỉ tiêu MTNQ); 02 chỉ tiêu thực hiện không đạt so với MTNQ là tỷ lệ huy động trẻ từ 3 tháng đến dưới 36 tháng tuổi đến nhà trẻ đạt 34,5% (MTNQ là 39%); số trẻ 3-5 tuổi học mẫu giáo đạt 98,1% (MTNQ là 98,8%). Dự ước kết thúc năm học 2018-2019 chỉ tiêu huy động trẻ 3-5 tuổi học mẫu giáo đạt MTNQ; chỉ tiêu tỷ lệ huy động trẻ từ 3 tháng đến dưới 36 tháng tuổi đến nhà trẻ không đạt MTNQ, nguyên nhân cơ bản là do thiếu giáo viên.

- Công tác Phổ cập giáo dục - xóa mù chữ: Dự ước đến tháng 12/2018, toàn tỉnh có 130/130 xã, phường, thị trấn duy trì chuẩn xóa mù chữ mức độ 1, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 1, phổ cập giáo dục THCS mức độ 1 và phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; có 88/130 xã, phường, thị trấn xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3; có 119/130 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2; có 21/130 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 3 và có 78/130 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2.

- Ước thực hiện tuyển sinh năm học 2018-2019 của 04 trường cao đẳng trên địa bàn tỉnh chưa đạt chỉ tiêu theo kế hoạch, trong đó đào tạo chính quy hệ cao đẳng chỉ đạt 41,3% kế hoạch (293/710 người); hệ trung cấp chính quy đạt 38,6% kế hoạch (193/500 người); tuyển mới đào tạo nghề được 7.843 người, trong đó cao đẳng nghề 150/100 người, vượt 1,5 lần kế hoạch, trung cấp nghề 266/300 người, đạt 88,7% kế hoạch, còn lại là đào tạo nghề sơ cấp dưới 3 tháng 7.427 người[8]. Các trường đã chủ động tổ chức nhiều loại hình đào tạo khác như: liên kết đào tạo thạc sỹ cho 315 người (tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước), liên kết đào tạo đại học cho 311 người (đạt 54,2% so với cùng kỳ năm trước); liên thông cao đẳng và trung cấp hệ vừa học vừa làm cho 460 người và bồi dưỡng ngắn hạn khác cho 879 người.

4. Văn hoá, thể thao, phát thanh, truyền hình và thông tin truyền thông

4.1. Văn hóa, thể thao

- Các hoạt động văn hóa được tổ chức phong phú đa dạng, đáp ứng yêu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh, tập trung tổ chức các hoạt động chào đón năm mới và các hoạt động văn hóa, thể thao mừng các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, phong trào văn hóa văn nghệ trên địa bàn các huyện. Phong trào văn nghệ quần chúng được duy trì phát triển, dự ước năm 2018 toàn tỉnh có tổng số 1.273 đội văn nghệ quần chúng, tổ chức 3.732 buổi biểu diễn, phục vụ trên 673 ngàn lượt người xem, đạt 100% Kế hoạch. Duy trì tổ chức một số lễ hội tiêu biểu như: Lễ hội Hoa Ban, sự kiện Hoa Anh Đào; Lễ hội Thành Bản Phủ; Lễ hội đua thuyền đuôi én tại Thị xã Mường Lay.

- Công tác bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản văn hóa, tiếp tục được quan tâm triển khai thực hiện; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được người dân hưởng ứng. Dự ước năm 2018 toàn tỉnh có: 1.029/1.813 thôn, bản đạt chuẩn văn hóa, chiếm 56,8% trong tổng số thôn, bản toàn tỉnh, đạt 100% kế hoạch; 80.244 gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, chiếm 64,3% trong tổng gia đình toàn tỉnh đủ điều kiện xét, đạt 106% kế hoạch, tăng 2,2% so với năm 2017; có 1.218 cơ quan, đơn vị trường học đạt chuẩn văn hóa, chiếm 90,6% trong tổng số cơ quan, đơn vị trường học toàn tỉnh, đạt 100% kế hoạch, tăng 4,1% so với năm 2017; 07/14 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị, đạt tỷ lệ 50% số phường, thị trấn và đạt MTNQ.

- Cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" tiếp tục được các cấp, các ngành, các địa phương nhiệt tình hưởng ứng thực hiện: Dự ước số người dân tích cực tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên năm 2018 đạt 157,520 ngàn người, chiếm 27,3% trên tổng số dân toàn tỉnh; 20.256 gia đình thể thao chiếm 16,8% trên tổng số gia đình toàn tỉnh; Có 380 câu lạc bộ TDTT cơ sở; thể thao thành tích cao thu được những kết quả đáng khích lệ [9]; đặc biệt là tổ chức thành công Đại hội TDTT tỉnh Điện Biên lần thứ X năm 2018 quy tụ trên 1.125 VĐV đến từ 19 đơn vị, tranh tài ở 80 bộ huy chương ở 16 môn thi đấu.  

4.2. Phát thanh - Truyền hình

Thực hiện Đề án phát sóng quảng bá kênh truyền hình Điện Biên trên vệ tinh  Vinasat. Tổng số giờ tiếp, phát sóng truyền hình Trung ương năm 2018 ước đạt 268.604 giờ, truyền hình địa phương là 117.416 giờ, 100% hộ gia đình có thể thu được sóng Đài Truyền hình Việt Nam và sóng đài truyền hình địa phương. Toàn tỉnh có 50/130 xã, phường, thị trấn có đài truyền thanh. Tổng số giờ tiếp, phát sóng của Đài tiếng nói Việt Nam ước đạt 54.662 giờ; của đài tỉnh là 84.708 giờ, trong đó tỷ lệ giờ tiếp, phát sóng phát thanh tiếng dân tộc của đài tỉnh là 55%. Số hộ gia đình nghe được Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh của tỉnh đạt 100%.

Truyền hình trả tiền trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, tạo điều kiện cho người dân trên địa bàn tỉnh được sử dụng dịch vụ truyền hình với chất lượng cao, nội dung chương trình phong phú với trên 200 kênh truyền hình tiêu chuẩn SD và HD. Năm 2018 phát triển mới trên 2.500 thuê bao, nâng tổng số lên trên 26.500 thuê bao truyền hình trả tiền gồm: Truyền hình cáp Việt Nam - VTVCab, Viễn thông Điện Biên - MyTV, Chi nhánh Viettel Điện Biên - NextTV, Truyền hình kỹ thuật số An Viên - AVG, Truyền hình FPT…).

4.3. Thông tin truyền thông

Đã tập trung chỉ đạo triển khai dự án Xây dựng hạ tầng kỹ thuật chính quyền điện tử tỉnh Điện Biên; Thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Điện Biên và ban hành Ban hành quy chế hoạt động của BCĐ xây dựng chính quyền điện tử tỉnh. Tập trung chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý; đồng thời, ban hành Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước tỉnh Điện Biên năm 2019

Hạ tầng CNTT trong các cơ quan nhà nước được quan tâm đầu tư xây dựng tỷ lệ máy tính/cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện đạt gần 100%, cấp xã đạt 77%. Dự ước năm 2018 số thuê bao điện thoại 520.871 thuê bao, tăng 6,63% so với năm 2017, đạt 115% so với kế hoạch; dự ước số thuê bao internet là 36.125 thuê bao, tăng 19,52% so với năm trước, đạt 110,7 % so với kế hoạch.

III. Về công tác quốc phòng - An ninh và đối ngoại

a) Quốc phòng - An ninh

- Tiếp tục quan tâm xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, củng cố xây dựng khu vực phòng thủ, tăng cường khả năng chiến đấu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia; Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo đảm các điều kiện cơ bản về sản xuất, đời sống cho đồng bào các dân tộc ở các địa bàn trọng điểm, vùng biên giới. Thành lập cơ quan Ban Chỉ đạo và triển khai công tác diễn tập khu vực phòng thủ trên địa bàn huyện Tuần Giáo, Mường Chà đảm bảo theo kế hoạch.

- Thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án quốc gia về phòng chống tội phạm; chủ động phòng ngừa, đấu tranh kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma tuý và tội phạm nghiêm trọng. Làm tốt công tác quản lý dân cư, giải quyết có hiệu quả tình trạng dân di cư tự do, xuất cảnh trái phép, quản lý trật tự xã hội, quản lý vũ khí, chất nổ, phòng cháy chữa cháy, kiềm chế tệ nạn xã hội, đảm bảo an toàn. Bảo vệ an toàn tuyệt đối các mục tiêu chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và các hoạt động văn hóa thể thao diễn ra trên địa bàn tỉnh. Trong năm 2018, đã tiếp nhận, xử lý 526/526 tin báo, tố giác về tội phạm (đạt tỷ lệ 100%), đã giải quyết 473 tin (đạt tỷ lệ 90%); trong đó có 218 tin ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

- Các lực lượng chức năng tích cực, chủ động triển khai thực hiện kế hoạch trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, kinh tế, môi trường. Phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, giải quyết các vấn đề lợi dụng tôn giáo, dân di cư tự do, vi phạm quy chế biên giới... phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động tuyên truyền lập "Nhà nước Mông". Đã chủ động nắm chắc tình hình xử lý kịp thời và triển khai phương án, ngăn chặn, kiên quyết không để các đối tượng tụ tập biểu tình, gây rối khi Quốc hội thảo luận dự án Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Qua đó, góp phần đảm bảo và giữ vững tình hình ANTT trên địa bàn tỉnh, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ, không để hình thành các băng, nhóm tội phạm hoạt động theo kiểu "xã hội đen", các điểm nóng phức tạp về trật tự an toàn xã hội. Phát hiện, điều tra, làm rõ 170/193 vụ phạm pháp hình sự, 585 vụ, 663 đối tượng về ma túy; khởi tố 19 vụ vi phạm về lĩnh vực kinh tế, môi trường. Liên tục mở các đợt cao điểm đảm bảo trật tự ATGT, nhất là dịp nghỉ lễ, tết, nghỉ hè. Tăng cường kiểm tra xử lý các lỗi vi phạm quy định về tốc độ, nồng độ cồn, tải trọng... giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí; số vụ tai nạn giao thông là 42 vụ, chết 26 người và bị thương 36 người so với cùng kỳ năm 2017 số vụ giảm 03 vụ (42/45) giảm 6,7%; số người chết giảm 04 người (26/30) giảm 13,3%; số người bị thương giảm 04 người (36/40) giảm 10%.

b) Công tác đối ngoại: Hoạt động đối ngoại được tăng cường, mở rộng. Duy trì quan hệ hợp tác với 3 tỉnh Bắc Lào, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, các tỉnh Đông Bắc Thái Lan và các tổ chức quốc tế. Tăng cường các hoạt động thu hút nguồn lực đầu tư của các tổ chức nước ngoài, tổ chức phi chính phủ vào phát triển kinh tế- xã hội, gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh của tỉnh. Tạo điều kiện thuận lợi và tổ chức tốt các cuộc họp với các phái đoàn nước ngoài đến thăm và làm việc tại tỉnh theo các chương trình, dự án. Quản lý chặt chẽ các đoàn ra, đoàn vào đảm bảo theo đúng theo quy định; đã cho phép 184 đoàn với 1.929 lượt người đến thăm và làm việc tại tỉnh; tổ chức cho 114 đoàn với 560 lượt cán bộ, công chức đi ra nước ngoài.

IV. Công tác tư pháp, công tác dân tộc tôn giáo, cải cách hành chính, xây dựng chính quyền; thanh tra và phòng chống tham nhũng.

a) Công tác tư pháp

Công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, xử lý và rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật tiếp tục được tăng cường, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành, bảo đảm các văn bản, chương trình, dự án, Kế hoạch do HĐND, UBND ban hành được thực thi nghiêm chỉnh, thống nhất. Công tác kiểm soát thủ tục hành chính tiếp tục được phát huy hiệu quả.

Trong năm 2018 công tác Tư pháp đã được triển khai đồng bộ, toàn diện, bám sát chương trình kế hoạch công tác của ngành Tư pháp năm 2018 và Chương trình giải pháp chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh; Công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL được nâng lên, đảm bảo tiến độ về thời gian góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của tỉnh, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi của văn bản. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, tuyên truyền phổ biến từng bước được nâng lên.

b) Công tác dân tộc, tôn giáo

Các địa phương và ngành thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chế độ chính sách dân tộc, đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các chương trình, dự án có liên quan đến chính sách dân tộc[10] kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, dự án, chính sách cho vùng đồng bào dân tộc, để tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực đặc biệt khó khăn, vùng cao, vùng biên giới;

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tôn giáo. Đặc biệt là triển khai một số nội dung Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định hướng dẫn Luật Tín ngưỡn, tôn giáo; Xây dựng báo cáo hoạt động của nhóm đạo “Giê Sùa”; trên địa bàn tỉnh Điện Biên; Hướng dẫn, quản lý hoạt động tôn giáo trong dịp Lễ Phật đản, An cư kiết hạ của Phật giáo; Lễ phục sinh, các lễ hội trong dịp Tết nguyên đán của Công giáo và Tin lành và một số nội dung liên quan đến công tác QLNN đối với đạo Tin lành theo quy định mới của Luật tín ngưỡng, tôn giáo.

c) Công tác cải cách hành chính, xây dựng chính quyền

- Tiếp tục xây dựng và ban hành và triển khai và kiểm tra giám sát việc thực hiện công tác Cải cách hành chính năm 2018 trên địa bàn tỉnh Điện Biên năm 2018; điều tra sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước. Thực hiện nghiêm kỷ cương hành chính, gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, nâng cao chất lượng chuyên môn, đạo đức công vụ của cán bộ công chức trong các lĩnh vực thu hút đầu tư, thẩm định dự án, đất đai, khoáng sản...qua đó chỉ số cải cách hành chính tăng lên. Đặc biệt năm 2017 chỉ số Cải cách hành chính của tỉnh vươn lên xếp thứ 24/63, tăng 18 bậc so với năm 2016.

Xây dựng kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TU và Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW và Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Trọng tâm là rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện, các đơn vị sự nghiệp và tinh giản, cơ cấu lại độ ngũ cán bộ công chức. Đến nay toàn tỉnh đã tinh giản được 745 biên chế, đạt 3% so với mục tiêu kế hoạch đến năm 2021; tổ chức lại phòng Kiểm soát TTHC thuộc Văn phòng UBND tỉnh; Kiện toàn tổ chức và hoạt động Ban An toàn giao thông tỉnh, cấp huyện; thành lập các đơn vị Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên trực thuộc UBND các huyện, thị xã; Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh; Trung tâm Hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh; Trường THCS và THPT Quyết Tiến huyện Tủa Chùa trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo; kiện toàn tổ chức bộ máy Quỹ Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam; bàn giao Chi cục Quản lý thị trường trực thuộc Sở Công Thương tỉnh Điện Biên về trực thuộc Tổng cục Quản lý thị trường trực thuộc Bộ Công Thương.

Chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng phương án mở rộng thành phố Điện Biên Phủ trên cơ sở điều chỉnh, sáp nhập thêm các xã Mường Phăng, Pá Khoang, Nà Nhạn, Nà Tấu và một phần của các xã Thanh Xương, Thanh Hưng, Thanh Nưa, Hua Thanh thuộc huyện Điện Biên về thành phố Điện Biên Phủ; Phương án mở rộng thị xã Mường Lay đảm bảo đạt các tiêu chí theo quy định. Đôn đốc các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục triển khai thực hiện dự án 513 các tuyến địa giới hành chính cấp huyện, xã.

Công tác Tư pháp đã được triển khai đồng bộ, toàn diện theo đúng kế hoạch năm 2018 và chương trình giải pháp chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh; Công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL được nâng lên, đảm bảo tiến độ về thời gian góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của tỉnh, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi của văn bản. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, tuyên truyền phổ biến từng bước được nâng lên.

d) Công tác thanh tra và phòng chống tham nhũng: Thực hiện chương trình công tác thanh tra theo kế hoạch, phát hiện kịp thời các sai phạm và xử lý dứt điểm các sai phạm sau thanh tra. Rà soát lại các cuộc thanh tra, kiểm tra của các cấp, các ngành; đảm bảo thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Trong năm 2018 đã triển khai thực hiện là 74 cuộc thanh tra hành chính và 48 cuộc thanh tra chuyên ngành; qua đó phát hiện 79 đơn vị có sai phạm về kinh tế với tổng số tiền 4.831,685 triệu đồng, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước 5.414,899 triệu đồng, xử lý 05 tổ chức và 28 cá nhân, ban hành 65 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 772,3 triệu đồng. Tổ chức tốt kế hoạch phòng chống tham nhũng, lãng phí; triển khai tích cực việc kê khai thuế thu nhập cá nhân. Tổ chức tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân ngay từ cơ sở; chú trọng công tác kiểm tra, đôn đốc việc giải quyết đơn thư của công dân theo thẩm quyền; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân và trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức và đơn vị trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng chống tham nhũng.

Đánh giá chung về kết quả đạt được: Năm 2018 được sự quan tâm của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, sự hỗ trợ của các Bộ ngành Trung ương và các địa phương cùng sự lãnh đạo chỉ đạo sâu sát quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh; sự nỗ lực của các ngành, các cấp, nhân dân các dân tộc và cộng đồng doanh nghiệp tỉnh; các tiêu chí chủ yếu về kinh tế xã hội đảm bảo quốc phòng an ninh đã đạt và vượt mục tiêu đề ra (có 32/37 tiêu chí đạt và vượt kế hoạch) trong đó nổi bật là:

(1). Duy trì tăng trưởng kinh tế khá, tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,15% (đạt mục tiêu đề ra).

(2). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực, đúng định hướng.

(3). Tái cơ cấu nông nghiệp tiếp tục có chuyển biến tiến bộ, thu hút được các dự án lớn đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp (02 dự án đầu tư trồng Mắc ca đã được cấp chủ trương đầu tư).

(4). Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn vượt dự toán, nhất là nguồn thu từ đất tăng cao (tăng 54% so với dự toán).

(5). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao so với cùng kỳ nhất là vốn ngoài nhà nước và khu vực doanh nghiệp tư nhân (tăng 53% so với năm 2017).

(6). Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện; thu hút đầu tư đạt khá; cải cách hành chính tiếp tục có chuyển biến rõ nét.

(7). Xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả tích cực, các chính sách an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên.

(8). Chất lượng giáo dục đào tạo, bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân, giải quyết việc làm mới cho lao động tiếp tục chuyển biến tích cực.

(9). An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, chủ quyền biên giới quốc gia được bảo vệ, giữ vững không để các vụ việc phức tạp xảy ra trên địa bàn, hoạt động đối ngoại tiếp tục được mở rộng.

Những kết quả trên là tiền đề quan trọng tạo đà cho thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ đề cho năm 2019 và cả giai đoạn 5 năm 2016-2020.

B. TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

(1) Tốc độ tăng trưởng GRDP khá cao nhưng chưa ổn định (nhất là lĩnh vực công nghiệp - xây dựng). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng còn chậm; một số chỉ tiêu sản xuất sản phẩm trong lâm nghiệp và công nghiệp chưa đạt. Tình trạng vi phạm pháp luật trong quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vẫn còn, trồng rừng khoanh nuôi chưa đạt Kế hoạch; hiệu quả khai thác các tiềm năng về du lịch, rừng và đất rừng có dấu hiệu tốt song còn chậm.

(2) Công tác kêu gọi thu hút các nguồn vốn, dự án đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực có lợi thế như: nông, lâm nghiệp, thủy điện, cơ sở hạ tầng, chăn nuôi, du lịch mặc dù đã được tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện, tuy nhiên kết quả chưa đạt mục tiêu đề ra; vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc bất cập, chậm trễ trong quá trình triển khai thực hiện, nhất là trong khâu hoàn thiện thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, triển khai các chương trình dự án.

(3) Tiến độ triển khai một số chương trình, dự án trọng điểm chậm hơn so với dự kiến chưa đáp ứng yêu cầu. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án đầu tư xây dựng còn nhiều vướng mắc (nhất là các dự án trọng điểm trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ). Tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án đầu tư do tỉnh quản lý năm 2018 đã có những bước cải thiện so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn đạt thấp so với yêu cầu (giải ngân các nguồn vốn đạt 52,63%, trong đó Vốn trái phiếu Chính phủ đạt 41,51%, Vốn nước ngoài chỉ đạt 27,77%).

(4) Văn hóa, xã hội có mặt chuyển biến chậm; chất lượng giáo dục vùng cao, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số còn bất cập; Tuyển sinh tại các trường cao đẳng của tỉnh chưa đạt chỉ tiêu. Chất lượng đào tạo nghề ở các trung tâm dạy nghề cấp huyện chưa đáp ứng yêu cầu; các tệ nạn xã hội còn phức tạp, hiệu quả công tác cai nghiện ma túy thấp.

(5) Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn hạn chế, hiệu quả chưa cao; quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp, ngành còn hạn chế; khả năng tuyên truyền, vận động quần chúng và kinh nghiệm trong công tác tôn giáo còn hạn chế. Việc tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ đời sống, hỗ trợ phát triển sản xuất, có việc hiệu quả triển khai còn chưa tốt.

(6) Chất lượng hoạt động của tổ chức bộ máy hành chính có việc còn hạn chế, cải cách tổ chức bộ máy trong một số cơ quan chưa rõ nét, hiệu quả hoạt động chưa cao. Công tác tham mưu, phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ giữa các cấp các ngành, các huyện, thị xã, thành phố còn thiếu chủ động; có việc chưa thực hiện nghiêm túc theo đúng tiến độ thời gian mà Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã giao, chất lượng tham mưu ở một số lĩnh vực còn thấp.

(7) Tình trạng xuất nhập cảnh trái phép, tình trạng di cư tự do và truyên truyền đạo trái phép và tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông” vẫn còn tiềm ẩn một số đối tượng phức tạp; Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội, tội phạm về ma túy ngày càng nghiêm trọng và manh động.

* Nguyên nhân: Các tồn tại hạn chế có nguyên nhân khách quan, song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, cụ thể như sau:

- Nguyên nhân khách quan

+ Điện Biên là tỉnh nghèo, nguồn lực đầu tư phát triển hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách; một số nguồn vốn phân bổ chậm; thời gian, thủ tục, trình tự đầu tư kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ triển khai. Năng lực quản lý của chủ đầu tư, chất lượng tư vấn một số chương trình, dự án còn hạn chế.

+ Cơ chế thu hút đầu tư còn nhiều bất cập, chưa sửa đổi kịp thời; chế độ chính sách quy định trong đền bù giải phóng mặt bằng thiếu nhất quán ở các chương trình dự án; hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương đối với việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia chưa kịp thời, chưa tháo gỡ được vướng mắc của địa phương, cơ sở.

+ Một số bộ phận của nhân dân không ủng hộ, nhận thức của người dân chưa tốt, năng lực của một số bộ phận cán bộ; công tác phối hợp, kiểm tra rà soát giữa các cấp các ngành có mặt còn hạn chế.

- Nguyên nhân chủ quan        

+ Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu; vai trò người đứng đầu và thực hiện chức trách nhiệm vụ ở một số cán bộ, đảng viên trong các cơ quan, đơn vị chưa được phát huy; thiếu sự chủ động, tích cực trong thực hiện nhiệm vụ; tác phong, lề lối và phương pháp làm việc của một số cán bộ, công chức quan liêu, hiệu quả chưa cao. 

+ Công tác quản lý đất đai còn nhiều bất cập, yếu kém, thiếu chặt chẽ; Chính quyền một số địa phương còn chưa chủ động tham mưu, rà soát tháo gỡ khó khăn trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tuyên truyền vận động người dân trong việc triển khai giải phóng mặt bằng một số dự án.

+ Sự phối hợp của các cấp, các ngành, lực lượng chức năng có mặt chưa hiệu quả; thiếu quyết liệt; công tác giám sát, kiểm tra đôn đốc nắm tiến độ để xử lý, tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện một số chương trình, dự án chưa thường xuyên, kịp thời.

PHẦN THỨ HAI

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2019

Dự báo, bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 trong bối cảnh, chính trị và kinh tế thế giới có diễn biến phức tạp, nhất là các nền kinh tế lớn, bảo hộ thương mại gia tăng, cạnh tranh kinh tế ngày càng quyết liệt; nền kinh tế của đất nước tiếp tục hội nhập ngày càng sâu rộng với kinh tế thế giới, đồng thời chuẩn bị thực thi nhiều cam kết kinh tế quốc tế mới, nhất là các cam kết FTA thế hệ mới; cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tiếp tục phát triển mạnh mẽ và ảnh hưởng ngày một sâu rộng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Với những giải pháp chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong năm 2018 sẽ phát huy hiệu quả cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư tư nhân trong năm 2019.

Năm 2019, được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIII và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020; là năm tổ chức kỷ niệm 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 110 năm Ngày thành lập tỉnh Điện Biên, 70 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Điện Biên. Bên cạnh những khó khăn, thách thức cơ bản như chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp, nguồn lực đầu tư còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chưa vững chắc, tỷ lệ hộ đói nghèo cao; tệ nạn xã hội, buôn bán ma túy, tình trạng dân di dịch cư tự do; có những thuận lợi cơ bản đã đạt được trong năm 2018, đặc biệt là trong công tác thu hút đầu tư các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho các dự án thủy điện, trồng cây mắc ca, các dự án phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh đã được cấp phép và phê duyệt chủ trương đầu tư để triển khai thực hiện trong năm 2019; nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước được tăng cường nhiều hơn so với năm 2018 như: Nguồn vốn dự phòng 10% trong kế hoạch đầu tư công trung hạn; nguồn vốn bố trí cho dự án Tái định cư thủy điện Sơn La và đề án sắp xếp, ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé; nguồn vốn bổ sung để tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm 2019, sẽ có tác động hết sức tích cực tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên.

I. Mục tiêu và các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019

1. Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục thực hiện giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn Tỉnh đạt khoảng 7,2%. Tạo chuyển biến thực chất hơn trong việc tổ chức thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Tăng cường huy động, sử dụng đảm bảo tiến độ, chất lượng, hiệu quả nguồn lực đầu tư, nhất là các chương trình mục tiêu và chương trình mục tiêu quốc gia, nâng cao hiệu quả thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đa dạng hóa các hình thức thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước để tăng cường nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế, xã hội; thực hiện quyết liệt công tác cải cách hành chính nhất là cải cải thủ tục hành chính, tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ và Tỉnh ủy. Giữ vững ổn định chính trị, chủ quyền biên giới quốc gia, an ninh trật tự và khối đoàn kết các dân tộc trên địa bàn tỉnh.

 2. Các chỉ tiêu chủ yếu

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) 7,2%. GRDP bình quân đầu người (giá hiện hành) ước đạt 30,45 triệu đồng/người/năm.

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng xác định: Nông lâm nghiệp, thủy sản 19,55%, giảm 0,41%; Công nghiệp - Xây dựng 22,83%, tăng 0,01%; Dịch vụ 55,08%, tăng 0,47%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp, giảm 0,08% (so với năm 2018).

- Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản đạt 3.987,85 tỷ đồng (giá năm 2010) tăng 4,5% so với năm 2018. Tổng sản lượng lương thực đạt 264.829 tấn. Phát triển đàn gia súc 606.798 con, tăng 4,36% so với năm 2018. Phấn đấu tăng tỷ lệ che phủ rừng đạt 40,31%, tăng 0,57% so với năm 2018.

- Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 3.070 tỷ đồng (giá năm 2010) tăng 12,97% so với ước thực hiện năm 2018.

- Thu ngân sách trên địa bàn 1.196 tỷ 397 triệu đồng, trong đó thu nội địa 1.150 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2019 khoảng 11.838,88 tỷ đồng, tăng 15,64% so với năm 2018.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ ước đạt 12.760 tỷ đồng, tăng 14,52% so với ước thực hiện năm 2018. Phấn đấu tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ ước đạt 83 triệu USD, trong đó xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ước đạt 50 triệu USD, tăng 13,64% so với ước thực hiện năm 2018. Phấn đấu thu hút trên 830 nghìn lượt khách du lịch đến Điện Biên; doanh thu xã hội từ du lịch đạt trên 1.360 tỷ đồng (tăng 17,75% so với năm 2018).

- Mức giảm tỷ lệ sinh 0,5%o, tổng dân số năm 2019 là 586,442 ngàn người; Giảm tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (thể cân nặng/tuổi) xuống còn 16,2%; giảm tỷ suất chết của trẻ dưới 5 tuổi xuống còn 32%o. Bình quân 12,5 bác sĩ/1 vạn dân.

- Đào tạo nghề cho 8.000 lao động (tăng 2% so với ước thực hiện năm 2018); tạo việc làm mới cho 8.650 lao động.

- Giảm tổng số hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 44.387 hộ, tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 33,97% (giảm 3,49% so với năm 2018); Trong đó riêng các huyện nghèo giảm còn 47,37% so với năm 2018, hộ nghèo giảm xuống còn 39.451 hộ. Tổ chức cai nghiện cho 950 người nghiện ma tuý (giảm 27 người so với ước thực hiện năm 2018), trong đó cai tại Trung tâm cai nghiện tỉnh là 400 người, số được điều trị thay thế nghiện bằng thuốc Methadone là 3.480 lượt. Phấn đấu có 53 xã, phường lành mạnh, không có tệ nạn mại dâm, ma túy (tăng 02 xã so với năm 2018).

- Huy động 40,2% số trẻ từ 3 tháng đến dưới 36 tháng tuổi đến nhà trẻ; 99,3% số trẻ 3-5 tuổi học mẫu giáo; 99,9% số trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo; huy động trẻ 6-10 tuổi đi học tiểu học đạt 99,8%; 11-14 tuổi học THCS đạt 95,4%; 15-18 tuổi học THPT và tương đương đạt 63,2%. Duy trì, củng cố, nâng cao chất lượng PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi; phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; phổ cập giáo dục THCS mức độ 1; chuẩn Xóa mù chữ mức độ 1. Phấn đấu 112/130 xã đạt chuẩn phổ cập GDTH mức độ 3; 128/130 xã đạt chuẩn phổ cập GDTHCS mức độ 2; 46/130 xã đạt chuẩn phổ cập GDTHCS mức độ 3; 110/130 xã đạt chuẩn Xóa mù chữ mức độ 2.

- Phấn đấu 98/130 xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn phù hợp với trẻ em (trong đó 06 xã được công nhận mới), tăng 3,58% so với ước thực hiện năm trước.

- Phấn đấu 90,52% số hộ được dùng điện tăng 2,28% so với năm 2018.

- Năm 2019 có thêm 8 xã cơ bản đạt chuẩn (các xã: Sam Mứn, Nà Tấu, Mường Nhà huyện Điện Biên; xã Na Sang huyện Mường Chà; xã Mường Báng huyện Tủa Chùa; xã Búng Lao huyện Mường Ảng; xã Mường Nhé huyện Mường Nhé; xã Quài Tở huyện Tuần Giáo). Phấn đấu đến cuối năm 2019, toàn tỉnh có 30 xã đạt từ 15-19 tiêu chí nông thôn mới, trong đó 18 xã đạt chuẩn và 12 xã cơ bản đạt chuẩn; không còn xã dưới 5 tiêu chí; số tiêu chí bình quân đạt 9,2 tiêu chí/xã; có 11 sản phẩm đạt tiêu chí sản phẩm chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP).

- 99,5% dân cư thành thị và 80,65% dân cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh.

II. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển ngành và lĩnh vực

1. Phát triển kinh tế

1.1. Phát triển nông, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn

- Đẩy mạnh thực hiện các nội dung cơ cấu lại nông nghiệp giai đoạn 2018-2020 theo Kế hoạch đã được phê duyệt gắn với xây dựng nông thôn mới; tập trung phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực, có thế mạnh để tạo thành hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất để tăng thu nhập cho nông dân; nhân rộng và phát huy kết quả của các chuỗi liên kết và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả đề án “Mỗi xã một sản phẩm” gắn với xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý; hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, nhất là sản xuất nông nghiệp sạch - an toàn để tăng thu nhập người dân nông thôn một cách bền vững. Tiếp tục kêu gọi, hỗ trợ các doanh nghiệp hoàn thiện các thủ tục đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Tháo gỡ khó khăn cho các dự án phát triển nông lâm nghiệp đã được đầu tư trên địa bàn tỉnh.

- Triển khai có hiệu quả chính sách hỗ trợ sản xuất, thực hiện các giải pháp để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị trên một đơn vị diện tích, sửa chữa các công trình thủy lợi đã xuống cấp, đầu tư xây dựng mới và kiên cố hóa kênh mương nội đồng để khai hoang mở rộng diện tích; tiếp tục tập trung triển khai thực hiện tốt công tác khuyến khích sản xuất lương thực theo mô hình cánh đồng lớn, theo hướng liên kết, hợp tác giữa các tổ chức, doanh nghiệp với người dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tăng cường hoạt động khuyến nông, khuyến lâm; khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống cây trồng, vật nuôi vào sản xuất; kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chất cấm trong chăn nuôi để nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh.

- Bảo vệ, chăm sóc duy trì diện tích cà phê, chè, cao su hiện có, tập trung vào thực hiện các giải pháp đẩy mạnh phát triển cây Mắc ca trên địa bàn theo đúng định hướng quy hoạch và các dự án phát triển Mắc ca đã được cấp chủ trương đầu tư; tiếp tục nghiên cứu phát triển thêm một số loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế và phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh. Tạo điều kiện thực hiện dự án phát triển chăn nuôi tập trung theo chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; phát triển các Hợp tác xã, các mô hình kinh tế tập thể, mô hình trang trại trong sản xuất thủ công nghiệp và nông nghiệp có sự liên kết 4 nhà: Nhà nước - Nhà nông - Nhà doanh nghiệp - Nhà khoa học, gắn sản xuất với thị trường, trao đổi hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.

- Triển khai cắm mốc 3 loại rừng ngoài thực địa; đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ khoanh nuôi tái sinh tự nhiên để tăng độ che phủ rừng. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; thực hiện giao rừng và giao đất lâm nghiệp chưa có rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tái tạo trồng rừng thay thế từ nguồn vốn quỹ bảo vệ phát triển rừng. Tăng cường các biện pháp phòng chống cháy rừng, quản lý, bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các vụ vi phạm.

- Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển nông thôn, hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới và xây dựng đô thị văn minh. Tập trung tháo gỡ khó khăn về cơ chế chính sách, khuyến khích thu hút các doanh nghiệp, nhà đầu tư đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn.

1.2. Công nghiệp, xây dựng

- Đẩy mạnh thu hút đầu tư vào công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất, chế biến; tiếp tục hoàn thiện thủ tục, hồ sơ để thu hút đầu tư vào các cụm công nghiệp đã được quy hoạch. Tiếp tục thực hiện tốt chính sách khuyến công hỗ trợ các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn. Tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương chủ động rà soát tháo gỡ khó khăn đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, các dự án về thủy điện, kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ, hiệu quả thấp. Tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện Dự án “Cấp điện nông thôn từ lưới điện Quốc gia tỉnh Điện Biên giai đoạn 2014 - 2020” và các dự án cấp điện khác thuộc các chương trình như 135, 30a ...

- Tổ chức kiểm tra tình hình triển khai thực hiện các dự án sau khi cấp phép đầu tư và cho chủ trương đầu tư để kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, đảm bảo tiến độ thực hiện dự án. Kiên quyết rút giấy phép đầu tư đối với các nhà đầu tư không đủ năng lực theo đăng ký, chậm trễ, không triển khai thực hiện dự án theo quy định. Trong quá trình chuẩn bị thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư và lựa chọn nhà thầu thực hiện các dự án đầu tư xây dựng, yêu cầu các Chủ đầu tư cần quan tâm đến năng lực của các doanh nghiệp (từ tháng 9/2018 trở đi nếu các doanh nghiệp không có các chứng chỉ hành nghề theo quy định sẽ không đảm bảo điều kiện để tham gia đấu thầu). Chú trọng hỗ trợ khôi phục, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống có ưu thế.

- Tiếp tục triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án phát triển hệ thống đô thị tỉnh Điện Biên giai đoạn 2016 - 2020. Sau khi Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Điện Biên đến năm 2035, tầm nhìn đến 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; khẩn trương đẩy nhanh tiến độ lập, thẩm định và phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết các đô thị, thị trấn, trung tâm các huyện, thị xã, thành phố; tăng cường khai thác các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội các khu dân cư đô thị mới. Đối với thành phố Điện Biên Phủ cần đẩy mạnh công tác triển khai các đồ án Quy hoạch các khu, điểm theo định hướng thu hút đầu tư; đẩy nhanh công tác triển khai thực hiện các dự án trọng điểm trên địa bàn thành phố Điện Biên Phủ như khu Trung tâm thương mại và Nhà ở thương mại thành phố Điện Biên Phủ; Trụ sở hợp khối, di chuyển các cơ quan ngành dọc và khu trung tâm hành mới của tỉnh... đáp ứng mục tiêu nâng cấp thành phố Điện Biên Phủ thành đô thị loại II. Tiếp tục kiến nghị Chính phủ bố trí các nguồn vốn đầu tư để triển khai thực hiện hoàn thiện các tuyến đường giao thông huyết mạch như tuyến Quốc lộ 12, QL279B, QL279 đoạn Điện Biên - Tây Trang; Tăng cường công tác quản lý tiến độ, quản lý chất lượng các công trình xây dựng để đảm bảo tiến độ thực hiện, giải ngân các chương trình, dự án đầu tư từ ngân sách và dự án đầu tư của các thành phần kinh tế, nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng lĩnh vực công nghiệp - xây dựng.

1.3. Phát triển các ngành dịch vụ

a) Dịch vụ thương mại: Tiếp tục tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng thương mại tại các khu đô thị; tạo điều kiện để phát triển mở rộng mạng lưới kinh doanh thương mại theo quy mô hộ kinh doanh cá thể để tạo điều kiện phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường, đảm bảo cung cấp các mặt hàng thiết yếu và thu mua nông sản hàng hóa cho nhân dân. Phấn đấu tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 12.760 tỷ đồng, tăng 14,52% so với ước thực hiện năm 2018.

Tăng cường hoạt động quản lý thị trường của cơ quan chức năng để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người sản xuất, trung gian thương mại và người tiêu dùng; tăng cường thực hiện các quy định về giao dịch thương mại theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, thúc đẩy tăng trưởng thị trường hàng hóa bán lẻ và dịch vụ thương mại; tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tập trung kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá, gian lận thương mại, không niêm yết giá và bán không theo giá niêm yết, kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hóa và VSATTP, các mặt hàng thiết yếu.

b) Phát triển dịch vụ du lịch: Tập trung vào mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, phấn đấu đưa Điện Biên trở thành trung tâm du lịch quan trọng của cả nước, tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Tích cực triển khai các nội dung trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, trọng tâm triển khai thực hiện Đề án “Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ đến năm 2030”, chú trọng vào các giải pháp thực hiện mở rộng các hoạt động liên kết, đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Với việc tổ chức lễ kỷ niệm 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, 110 năm Ngày thành lập tỉnh Điện Biên, 70 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Điện Biên trong năm 2019, dự kiến lượng du khách đến tỉnh sẽ gia tăng mạnh; phấn đấu thu hút trên 830 nghìn lượt khách du lịch đến Điện Biên (tăng 10,6% so với năm 2018); doanh thu xã hội từ du lịch đạt trên 1.360 tỷ đồng (tăng 17,7% so với năm 2018).

c) Vận tải, bưu chính viễn thông: Tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ để phát triển mở rộng, nâng cao chất lượng thị trường dịch vụ vận tải và bưu chính viễn thông đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Đa dạng hóa loại hình, nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải theo hướng đa phương thức, mở rộng phát triển với Lào và Trung Quốc; đẩy mạnh tốc độ phổ cập dịch vụ bưu chính, viễn thông và CNTT tới vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội.

d) Xuất, nhập khẩu: Mở rộng lĩnh hợp tác với các tỉnh Bắc Lào, huyện Giang Thành tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), khuyến khích các doanh nghiệp nghiên cứu thị trường theo hướng liên kết với các doanh nhiệp bản địa tại các tỉnh Bắc Thái Lan để cùng khai thác có hiệu quả các cửa khẩu, lối mở, lợi thế thương mại trên địa bàn. Tiếp tục cập nhật thông tin thị trường, điều chỉnh định hướng sản xuất hàng hóa xuất khẩu chủ lực phù hợp để nâng cao tỷ trọng hàng địa phương trong kim ngạch xuất khẩu.

1.4. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư; phát triển các thành phần kinh tế

a) Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút các nguồn lực đầu tư:

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ giải pháp đồng bộ để cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, hướng tới ngày càng nâng cao năng lực cạnh tranh (PCI) trong năm 2019 và những năm tiếp theo. Đổi mới công tác chỉ đạo điều hành; đẩy mạnh thực hiện việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư. Tăng cường thực thi các chủ trương, chính sách về hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp theo quy định của pháp luật, trong đó, tập trung chỉ đạo thực hiện các giải pháp để phát triển doanh nghiệp; đặc biệt là việc thực hiện Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; nghiên cứu ban hành các cơ chế, chính sách để khuyến khích các hộ kinh doanh thành lập doanh nghiệp theo chủ trương của Chính phủ.

- Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện các dự án đã được quyết định chủ trương đầu tư theo hình thức PPP đã cho Chủ trương đầu tư; các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh. Chuẩn bị tốt công tác chuẩn bị để làm cơ sở thu hút, theo đúng định hướng và có chọn lọc, chú trọng chất lượng dự án; ưu tiên lựa chọn các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực có tiềm năng, phù hợp với định hướng phát triển.. Phấn đấu năm 2019, số lượng các dự án kêu gọi đầu tư đạt ít nhất 15 dự án, với tổng mức đầu tư 1.500 tỷ đồng, trong đó có ít nhất 01 dự án FDI.

- Tăng cường công tác vận động, thu hút nguồn vốn ODA. Triển khai thực hiện dự án Phát triển Nông thôn dựa vào kết quả (vốn JICA); Chương trình đô thị miền núi phía Bắc - thành phố Điện Biên Phủ, giai đoạn 2 (2017-2020), dự án mở rộng quy mô vệ sinh và nước sạch nông thôn dựa trên kết quả (vốn WB); Chương trình phát triển giáo dục trung học giai đoạn 2 (khoản vay chính sách). Tiếp tục tìm kiếm nguồn vốn ODA cho các dự án thuộc lĩnh vực được các nhà tài trợ lớn quan tâm như phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường…

- Báo cáo đầy đủ kịp thời tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm, bám sát chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước tranh thủ sự ủng hộ giúp đỡ của Chính Phủ và các bộ ngành Trung ương để báo cáo, đề nghị bố trí nguồn vốn kịp thời cho các chương trình dự án trọng điểm nhất là các nguồn vốn bổ sung theo cơ chế đặc thù cho Đề án sắp xếp ổn định dân di dịch cư tự do Mường Nhé, Đề án xây dựng nông thôn mới ở 29 xã biên giới, ...

b) Phát triển các thành phần kinh tế: Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, nghiên cứu hướng dẫn, tạo hành lang pháp lý thông thoáng, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Đẩy mạnh hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp. Phấn đấu số lượng đăng ký mới năm 2019 là 150 doanh nghiệp và 20 hợp tác xã. Hoàn tất việc giải thể, chấm dứt tồn tại các HTX không hoạt động, chỉ tồn tại trên hình thức. Tích cực thực hiện thoái vốn nhà nước tại các công ty cổ phần và hoàn tất việc bàn giao đại diện chủ sở hữu về SCIC tại 4 doanh nghiệp theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt giai đoạn 2017-2020.

1.5. Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả đầu tư

- Tiếp tục quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định của Luật Đầu tư công; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với tất cả các khâu trong quá trình đầu tư bảo đảm công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện. Thực hiện rà soát, sắp xếp danh mục các dự án đầu tư theo thứ tự ưu tiên, bố trí vốn đầu tư tập trung, tránh dàn trải đảm bảo các công trình được đưa vào sử dụng đúng tiến độ. Tăng cường quản lý đầu tư, xây dựng kế hoạch đầu tư theo hướng đầu tư tập trung, có trọng điểm.

- Trong quá trình thực hiện, yêu cầu các cơ quan, đơn vị quản lý, phê duyệt, triển khai dự án đầu tư phải thực hiện đúng quy trình, quy chế quản lý đầu tư theo các quy định hiện hành; xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, trách nhiệm của mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân gây lãng phí, tổn thất nguồn lực Nhà nước trong quá trinh thực hiện. Thực hiện, giám sát chặt chẽ việc triển khai thực hiện đề án cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở các cơ quan, đơn vị liên quan đến giải quyết các thủ tục đầu tư, giải ngân, quyết toán vốn để đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị đầu tư, thực hiện và giải ngân các dự án.

- Đôn đốc các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thi công, nghiệm thu thanh toán và giải ngân các chương trình, dự án theo tiến độ, kế hoạch giao. Chủ động rà soát tiến độ, kế hoạch vốn đã giao của các chương trình, dự án đang triển khai; trên cơ sở đó, thực hiện thu hồi, dừng triển khai đối với các dự án không đảm bảo tiến độ, hiệu quả để điều hòa, phân bổ kế hoạch vốn cho các công trình đảm bảo tiến độ, tập trung ưu tiên cho các công trình đã có khối lượng hoàn thành, các dự án tiếp chi để hạn chế nợ đọng xây dựng cơ bản, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn được giao.

1.6. Tài chính - Ngân hàng

- Thực hiện điều hành dự toán thu chi ngân sách năm 2019 linh hoạt theo đúng chỉ đạo của Chính phủ để góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng. Tăng cường quản lý thu ngân sách trên địa bàn, tích cực đôn đốc xử lý nợ đọng thuế trong các doanh nghiệp, tổ chức thực hiện kịp thời các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Phấn đấu tổng thu ngân sách trên địa bàn năm 2019 đạt 1.196 tỷ 397 triệu đồng, trong đó thu nội địa 1.150 tỷ đồng.

- Tiếp tục thực hiện tiết kiệm chi tiêu hành chính theo hướng mở rộng khoán chi đối với các cơ quan đơn vị gắn với kiểm tra, giám sát đảm bảo đúng quy định của luật ngân sách, đảm bảo các khoản dự phòng chi cho các yêu cầu nhiệm vụ chi cấp bách, đột suất phát sinh trên địa bàn. Nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, xác định rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân và chế độ trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước.

- Thực hiện kịp thời các chính sách tín dụng ưu đãi cho các đối tượng đúng quy định của Chính phủ và Ngân hàng trung ương. Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, đổi mới công nghệ.

1.7. Các chương trình dự án trọng điểm

a) Dự án bổ sung đoạn tuyến từ Đường Võ Nguyên Giáp đến khu TĐC Noong Bua (Đường 60m) thuộc Dự án di dân TĐC thủy điện Sơn La: Tiếp tục tập trung chỉ đạo các đơn vị quyết liệt triển khai thực hiện dự án đảm bảo hoàn thành trong năm 2018; hàng tháng, hàng quý tiến hành kiểm tra đánh giá tiến độ để kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc của dự án đặc biệt trong công tác GPMB; ưu tiên cân đối bố trí vốn cho dự án ngay khi kế hoạch vốn được Thủ tướng Chính phủ giao. 

b) Dự án Hạ tầng kỹ thuật khung: Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân; về công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cự, giải phóng mặt bằng dự án: Hoàn thiện hồ sơ thực hiện việc cưỡng chế kiểm đếm và cưỡng chế thu hồi đất đối với những hộ gia đình cá nhân cố tình chống đối việc thực hiện thu hồi đất trong trường hợp đã thực hiện đầy đủ các quy định trình tự thủ tục của pháp luật về thu hồi đất.

c) Đề án sắp xếp, ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé: Trên cơ sở nội dung Đề án điều chỉnh được phê duyệt theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục tổng hợp nhu cầu vốn đề xuất các Bộ, ngành Trung ương bố trí vốn để triển khai thực hiện Đề án, trong đó tập trung bố trí cho các điểm bản mới chưa được đầu tư công trình hạ tầng hoàn thiện; các dự án đang triển khai thực hiện dở dang. Đối với các điểm bản đã di chuyển bố trí sắp xếp dân cư khẩn trương thực hiện các chính sách hỗ trợ cho các hộ chuyển đến. Tiếp tục đề nghị Trung ương tháo gỡ vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn sự nghiệp, tiếp tục tuyên truyền vận động và di chuyển lấp đầy các điểm bản đã được đầu tư cơ sở hạ tầng theo phương án quy hoạch…

d) Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới: Tập trung chỉ đạo thực hiện hoàn thành kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2019 theo kế hoạch số 3055/KH-UBND ngày 22/10/2018. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả đề án “Mỗi xã một sản phẩm”; hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, nhất là sản xuất nông nghiệp sạch - an toàn để tăng thu nhập người dân nông thôn một cách bền vững. Chỉ đạo xây dựng và ban hành Kế hoạch thực hiện xã, thôn (bản) nông thôn mới kiểu mẫu; Bộ tiêu chí thôn (bản) nông thôn mới (áp dụng cho các xã chưa hoàn thành các tiêu chí để xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới) và Bộ tiêu chí thôn (bản) nông thôn mới kiểu mẫu (áp dụng đối với các xã đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới).

đ) Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững: Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn cấp xã triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo. Triển khai có hiệu quả các dự án về truyền thông, tăng cường kiểm tra, giám sát đánh giá để đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình.

e) Đường Na Sang (Km146+200/QL.12) - TT xã Huổi Mí - Pú Xi - Nậm Mức (Km450/QL.6) - Km456/QL.6 - Thị trấn Tủa Chùa - Huổi Lóng, tỉnh Điện Biên (Phân đoạn TT. Tủa Chùa - Nậm Mức - Huổi Mí): Đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng, chỉ đạo chủ đầu tư phối hợp với các đơn vị liên quan lập hồ sơ chuyển đổi mục đích rừng và đất lâm nghiệp hoàn thiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi giao đất. Chỉ đạo đôn đốc tổ chức triển khai thực hiện và giải ngân theo đúng kế hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt.

f) Các dự án thực hiện theo hình thức PPP: Sau khi có hướng dẫn tháo gỡ việc sử dụng tài sản công để thanh toán cho Nhà đầu tư khi thực hiện dự án BT của Bộ Tài chính và các Bộ ngành trung ương, UBND tỉnh sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện công tác GPMB và thực hiện các giải pháp để đẩy nhanh tiến độ triển khai thi công, thực hiện dự án theo quy định. Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh việc kêu gọi, thu hút các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư để phát triển kết cấu hạ tầng đô thị trên địa bàn tỉnh; đồng thời hướng dẫn các Nhà đầu tư đề xuất dự án tiến hành lập các dự án đầu tư theo đúng các quy định của Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

g) Các Đề án, dự án đăng ký báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng: Sau khi Đề án “Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ đến năm 2030” và các dự án: “Khu lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Mường Phăng”; dự án “Đền thờ các anh hùng liệt sỹ hy sinh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ” được Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng xem xét có ý kiến, UBND tỉnh sẽ chỉ đạo các Sở, ban ngành liên quan khẩn trương triển khai thực hiện các công tác chuẩn bị đầu tư của dự án theo quy định hiện hành để các dự án có cơ sở triển khai thực hiện các bước tiếp theo như: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; Triển khai thực hiện công tác thi tuyển kiến trúc; Huy động các nguồn lực triển khai thực hiện dự án... theo đúng chủ trương đầu tư dự án đã được Bộ Chính trị chấp thuận.

h. Đối với Đề án “Ổn định dân cư, phát triển kinh tế xã hội vùng tái định cư thủy điện Sơn La”:

 Tiếp tục kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương cân đối phân bổ vốn cho tỉnh triển khai Đề án. Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn UBND các huyện, thị xã thành phố triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ ổn định đời sống và triển khai thực hiện đầu tư nâng cấp, sửa chữa và xây mới đối với các công trình theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ đối với vùng đồng bào tái định cư thủy điện Sơn La.

i) Triển khai thực hiện quy hoạch Cảng hàng không Điện Biên: Tiếp tục làm việc với các bộ ngành trung ương để đề xuất giao UBND tỉnh làm chủ đầu tư dự án. Xây dựng tiến độ tổng thể và tiến độ cụ thể từng hạng mục công việc triển khai thực hiện dự án, tiếp tục chỉ đạo triển khai công tác GPMB, nhu cầu tái định cư liên quan đến nâng cấp cảng hàng không Điện Biên (bao gồm nhu cầu tái định cư trong phạm vi quy hoạch xây dựng nâng cấp Cảng hàng không Điện Biên và các đối tượng ảnh hưởng của tỉnh không sân bay) trên cơ sở Quy hoạch chung thành phố Điện Biên Phủ, Quy hoạch nông thôn mới các xã thuộc huyện Điện Biên và các quy hoạch, dự án liên quan. Triển khai hoàn thành việc lập quy hoạch phân khu phía Tây Bắc gắn với Quy hoạch Cảng hàng không Điện Biên Phủ để phục vụ cho việc triển khai dự án nâng cấp Sân bay Điện Biên Phủ theo quy hoạch.

k) Chương trình phát triển đô thị vay vốn WB: Tiếp tục tập trung chỉ đạo các đơn vị tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong GPMB; tập trung thi công đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án đảm bảo theo đúng tiến độ triển khai thực hiện Chương trình đã cam kết với Nhà tài trợ.

2. Lĩnh vực văn hoá - xã hội

2.1. Đào tạo lao động, giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo: Ưu tiên phát triển các loại hình đào tạo nghề, trong đó tập trung vào các ngành nghề như: Chế biến nông, lâm nghiệp, xây dựng du lịch, tin học, quản lý kinh tế... Thực hiện các chính sách lao động, việc làm gắn với phát triển thị trường lao động; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia dạy nghề cho lực lượng lao động của tỉnh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả mục tiêu giải quyết việc làm, nhằm nâng cao chất lượng việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giảm thất nghiệp. Liên kết, phối hợp với các tỉnh có điều kiện phát triển và thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, đẩy mạnh tuyên truyền vận động đưa lao động đi làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trong nước.

Tập trung triển khai thực hiện các giải pháp giảm nghèo bền vững. Khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng lắp giữa các cơ chế, chính sách về an sinh xã hội và giảm nghèo, bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ, khuyến khích người dân thoát nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng; ưu tiên hỗ trợ phát triển sản xuất và đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn, các xã biên giới cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội còn thiếu, yếu kém. Tiếp tục rà soát tổng thể các chính sách hỗ trợ giảm nghèo đang thực hiện trên địa bàn tỉnh để xác định những chính sách phù hợp, những chính sách còn chồng chéo, bất hợp lý trong thực hiện, báo cáo, đề xuất với Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương điều chỉnh theo hướng mở rộng các chính sách kích thích sản xuất, khuyến khích thoát nghèo. Nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng và đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.

2.2. Giáo dục - Đào tạo

- Tăng cường đầu tư, hoàn thiện cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật phục vụ cho giáo dục dạy và học theo hướng chuẩn hoá, đồng bộ và từng bước hiện đại. Rà soát, sắp xếp lại quy mô trường, lớp học (giảm 18 trường so với năm học 2018-2019, trong đó: sáp nhập 04 trường mầm non với mầm non, 05 trường tiểu học với tiểu học, 07 trường tiểu học với THCS, 01 trường THCS với THCS, nâng cấp 01 trường tiểu học thành trường tiểu học và THCS, sáp nhập Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp - Hướng nghiệp); tăng tỷ lệ huy động dân số trong độ tuổi đến trường, tăng số học sinh/lớp ở tất cả các cấp học đảm bảo không vượt mức tối đa theo quy định.

- Vận động, tư vấn, khuyến khích sinh viên tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng sư phạm mầm non khởi nghiệp, mở lớp, nhóm trẻ ngoài công lập ở những nơi có đủ điều kiện, đảm bảo các quy định hiện hành. Các cơ sở đào tạo và dạy nghề rà soát, điều chỉnh quy mô, ngành nghề đào tạo, xây dựng kế hoạch tuyển sinh, đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của tỉnh.

- Thực hiện nhiệm vụ tuyển sinh vào đại học, cao đẳng theo đúng Quy chế của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Phối hợp chặt chẽ với các trường đại học, cao đẳng trong và ngoài tỉnh tổ chức đào tạo đại học vừa làm vừa học; đào tạo thạc sĩ cho cán bộ, công chức, viên chức trong tỉnh.

2.3. Dân số - Y tế - Trẻ em:

- Triển khai đồng bộ, có hiệu quả Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số và các hoạt động y tế trên địa bàn, theo hướng: Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, tăng cường giám sát dịch tễ, phát hiện sớm và xử lý kịp thời không để dịch lớn xảy ra; Truyền thông với nội dung, hình thức, cách tiếp cận phù hợp với từng nhóm đối tượng; Mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục về dân số - sức khỏe sinh sản, phòng ngừa lây nhiễm HIV, kiện toàn và nâng cao chất lượng dịch vụ dân số - kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản giảm nhanh tỷ lệ tử vong bà mẹ và trẻ em; nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, khám chữa bệnh BHYT; Tăng cường quản lý Nhà nước về khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân.

- Tiếp tục thực hiện các Chương trình bảo vệ trẻ em, Chương trình hành động vì trẻ em đến năm 2020 đã được phê duyệt; triển khai có hiệu quả dự án Tăng cường chăm sóc trẻ thơ toàn diện tỉnh Điện Biên giai đoạn 2017-2021 do UNICEF tài trợ; tăng cường tuyên truyền, giáo dục về tác hại của ma tuý và các hình thức cai nghiện, tổ chức điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, cũng như cai nghiện tại gia đình và cộng đồng. Nâng cao hiệu quả giải quyết một số vấn đề xã hội sau cai nghiện ma tuý; đẩy mạnh công tác xây dựng xã, phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội.

2.4. Văn hoá, thể thao, phát thanh, truyền hình và thông tin truyền thông.

- Hoàn thiện các nội dung, công tác chuẩn bị để thực hiện thành công các hoạt động kỷ niệm 03 ngày Lễ năm  2019 (Kỷ niệm 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07/5/2019; 110 năm Ngày thành lập tỉnh Điện Biên 28/6/2019 và 70 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Điện Biên 10/10/2019). Tiếp tục duy trì, nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân Đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; triển khai tốt công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản văn hóa; tổ chức sưu tầm, phục dựng một số lễ hội truyền thống các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên; tập trung phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thể thao cấp cơ sở; phát huy phong trào xây dựng gia đình đoàn kết, hòa thuận, bình đẳng, hạnh phúc, kỷ cương, nề nếp, đời sống kinh tế ổn định và phát triển bền vững. Duy trì và phát triển mạnh phong trào TDTT quần chúng, nâng cao sức khỏe, thể chất cho người dân, thu hút số người dân tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên; thực hiện đào tạo vận động viên năng khiếu TDTT và huấn luyện vận động viên thể thao thành tích cao, đẩy mạnh và phát triển thể thao thành tích cao.

- Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật phát thanh - truyền hình cấp cơ sở. Phát triển thị trường truyền dẫn, phát sóng nhằm thu hút các nguồn lực để phát triển hạ tầng kỹ thuật phát thanh, truyền hình. Đầu tư đổi mới nội dung, chương trình tăng thời lượng phát sóng chương trình của Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh và tăng thời lượng, số lượng các chương trình tự sản xuất. Tăng cường hỗ trợ nhân dân vùng khó khăn tiếp cận với dịch vụ phát thanh, truyền hình. Thực hiện tốt nhiệm vụ thông tin tuyên truyền góp phần triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục thực hiện số hóa chương trình truyền hình và phát sóng qua mạng truyền dẫn phát sóng số mặt đất, phát sóng qua mạng Internet. Tăng cường hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý nhà nước; xây dựng hoàn thiện khung chính quyền điện tử tỉnh Điện Biên. Triển khai kế hoạch ứng dụng chữ ký số chuyên dùng trong các cơ quan Nhà nước tỉnh Điện Biên giai đoạn 2019 - 2020.

3. Khoa học công nghệ, tài nguyên môi trường

- Tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đáp ứng nhu cầu thực tế của địa phương, thực hiện tốt quy trình tuyển chọn, giao trực tiếp cơ quan chủ trì đề tài, dự án theo định hướng tuyển chọn tổ chức, cá nhân có năng lực và kinh nghiệm tốt nhất để thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ; hỗ trợ tư vấn cho các đơn vị, doanh nghiệp bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp; đồng thời triển khai đồng bộ công tác quản lý tiêu chuẩn đo lường chất lượng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng hàng hóa.  Đẩy mạnh công tác phổ biến, chuyển giao và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tế.

- Tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất làm cơ sở triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai; kiểm soát tốt việc giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; rà soát, xây dựng kế hoạch phát triển quỹ đất đáp ứng nhu cầu tái định cư các dự án và bố trí đất ở cho các hộ gia đình, cá nhân và đấu giá đất tạo nguồn thu cho ngân sách. Tăng cường quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên trong đó tập trung quản lý, khai thác đá, cát, sỏi, cấp phép sử dụng tài nguyên nước; thường xuyên kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình thực hiện, xử lý nghiêm các vi phạm; kiên quyết xử lý các cơ sở sử dụng lãng phí năng lượng, tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; tiếp tục giải quyết dứt điểm những tồn tại, vướng mắc liên quan đến hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Tăng cường kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của các đơn vị trên địa bàn; nâng cao năng lực cảnh báo, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong bối cảnh các hiện tượng thiên tai cực đoan có xu hướng xấu, ngày càng phức tạp.

4. Công tác tư pháp, xây dựng chính quyền và thanh tra, phòng chống tham nhũng

- Đảm bảo tiến độ, chất lượng xây dựng, ban hành, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL. Triển khai thực hiện có hiệu quả công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính và công tác theo dõi thi hành pháp luật; các Chương trình, Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật. Tăng cường quản lý hoạt động luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp; bảo đảm minh bạch và an toàn pháp lý cho các giao dịch dân sự; hỗ trợ công dân tiếp cận dịch vụ pháp lý để bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp; đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

- Chỉ đạo thực hiện hoàn thành về cơ bản công tác sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, thực hiện tinh giảm biên chế trên địa bàn tỉnh theo Nghị quyết số 15-NQ/TU, Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII. Tập trung chỉ đạo cải thiện các chỉ số thành phần còn thấp để nâng cao chỉ số cải cách hành chính cấp tỉnh. Tiếp tục thực hiện lộ trình tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao ý thức trách nhiệm, đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ công chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả của cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

- Chủ động xây dựng và triển khai thực hiện tốt chương trình thanh tra theo kế hoạch; phối hợp chặt chẽ kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân ngay từ cơ sở. Phát huy vai trò của nhân dân, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; có chính sách, biện pháp bảo vệ người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

5. Cải cách hành chính: Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy cơ quan hành chính Nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức; rà soát cắt giảm, sửa đổi, kiến nghị sửa đổi kịp thời các thủ tục hành chính không phù hợp, nghiên cứu, đơn giản hóa, bãi bỏ các thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân. Tiếp tục hiện đại hóa nền hành chính, đổi mới phương thức điều hành của các cơ quan hành chính theo hướng mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin. Thực hiện công bố công khai, minh bạch các quy trình, thủ tục, giảm thiểu tiêu cực, nhũng nhiễu, tạo thuận lợi trong thực hiện thủ tục hành chính và tiết kiệm chi phí. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ chế một cửa tại các cơ quan, đơn vị; tiếp tục mở rộng thực hiện cơ chế một cửa liên thông trên một số lĩnh vực.

Đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, nhất là tuyển dụng và bổ nhiệm theo hướng công khai, minh bạch, có tiêu chí rõ ràng với từng vị trí công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan tuyển dụng. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và kỷ luật hành chính. Tiếp tục chấn chỉnh thực hiện tốt hơn chế độ thông tin báo cáo của các cơ quan, ban ngành của các địa phương.

6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

- Nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục phổ thông, thông qua việc mở rộng quy mô giáo dục gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tổ chức đánh giá kết quả học tập chính xác, khách quan, mở rộng các môn học ngoại ngữ, tin học trong các trường tiểu học khi đã đủ điều kiện. Gắn học tập với thực hành phù hợp với đặc điểm và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán sản xuất của từng địa phương trong tỉnh.

- Triển khai có hiệu quả các Chương trình hành động thực hiện Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Điện Biên đến năm 2020. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất và chuẩn hóa đội ngũ giảng viên để nâng cao chất lượng đào tạo các trường chuyên nghiệp của tỉnh; Mở rộng các hình thức liên kết đào tạo với các trường đào tạo có uy tín. Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động; xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo nguồn nhân lực. Chủ động hội nhập quốc tế trong phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với các tỉnh Bắc Lào, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, các tỉnh Bắc Thái Lan.

7. Công tác dân tộc, tôn giáo

- Tăng cường công tác kiểm tra cơ sở, chủ động nắm bắt tình hình triển khai thực hiện các chính sách dân tộc, kịp thời tháo gỡ những khó khăn vướng mắc; đề xuất với các cấp, các ngành sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp với điều kiện thực tế, tạo điều kiện cho các đơn vị cơ sở thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các hạng mục công trình, nội dung chính sách của Đề án “phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc Cống tỉnh Điện Biên”; triển khai đảm bảo tiến độ, hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tiểu dự án đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả đề án "Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025"; đề án đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền vận động đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2021 trên địa bàn tỉnh.

- Tiếp tục triển khai thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo; hướng dẫn chức sắc, tổ chức tôn giáo, các điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật; quán triệt, tuyên truyền triển khai thực hiện Luật tôn giáo và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo các cấp; tập trung triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, các kế hoạch của tỉnh về công tác tôn giáo. Chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

8. Về đảm bảo quốc phòng - an ninh và quan hệ đối ngoại

- Tiếp tục tăng cường năng lực phòng thủ, chủ động đối phó với các tình huống, diễn biến, không để xẩy ra các tình huống bất ngờ; Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo đảm các điều kiện cơ bản về sản xuất, đời sống cho đồng bào các dân tộc ở các địa bàn trọng điểm, vùng biên giới. Thực hiện có hiệu quả các Chương trình, Đề án quốc gia về phòng chống tội phạm; chủ động phòng ngừa, đấu tranh kiềm chế, làm giảm các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma tuý và tội phạm nghiêm trọng. Làm tốt công tác quản lý dân cư, giải quyết có hiệu quả tình trạng dân di cư tự do, xuất cảnh trái phép, quản lý trật tự xã hội, quản lý vũ khí, chất nổ, phòng cháy chữa cháy, kiềm chế tệ nạn xã hội, đảm bảo an toàn và giảm tai nạn giao thông trên cả 3 tiêu chí.

- Đẩy mạnh quan hệ hữu nghị hợp tác quốc tế theo chủ trương chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; Tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của tỉnh về Hội nhập Quốc tế; tăng cường hợp tác kinh tế đối ngoại theo hướng khả thi, cụ thể, thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm. Quán triệt triển khai thực hiện thỏa thuận cấp cao và Đề án hợp tác quốc phòng Việt - Lào. Tiếp tục tăng cường, củng cố quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện với các tỉnh Bắc Lào; mở rộng quan hệ với các tỉnh Đông Bắc Thái Lan và các địa phương của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Tăng cường quan hệ với các đại sứ quán, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, nhằm tạo những cơ hội mới trong vận động thu hút vốn đầu tư phát triển phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của tỉnh.

Trên đây là Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2019, UBND tỉnh báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư./.

 

Nơi nhận:

- VP Chính phủ; (B/C)

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư;(B/C)

- Bộ Tài chính; (B/C)

- Ban Chỉ đạo Tây Bắc; (B/C)

- Kiểm toán Nhà nước; (B/C)

- TT Tỉnh ủy;

- TT HĐND tỉnh;

- LĐ UBND tỉnh;

- Đoàn ĐBQH tỉnh;

- Các Sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh;

- UBND các huyện, TX, TP;

- LĐ Văn phòng, CV các khối;

- Lưu: VT, TH1.

 

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

 

(Đã ký)

 

   Mùa A Sơn