Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ giải pháp chủ yếu 6 tháng cuối năm 2018

Đăng ngày 31 - 07 - 2018
100%

PHẦN THỨ NHẤT

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG AN NINH 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2018

Sáu tháng đầu năm 2018, tỉnh tiếp tục thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020 trong bối cảnh có những thuận lợi như kinh tế đất nước ổn định và tiếp tục phát triển, nguồn lực đầu tư được tăng cường, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ổn định.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự phối hợp của Thường trực HĐND tỉnh, Ủy ban MTTQ và các đoàn thể tỉnh; UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh và đề ra các nhiệm vụ giải pháp điều hành phù hợp, qua đó đã đạt được những kết quả tích cực, cụ thể:

A. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRÊN CÁC LĨNH VỰC

I. Lĩnh vực kinh tế: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Điện Biên (GRDP) 6 tháng năm 2018 theo giá so sánh năm 2010 ước 5.334,56 tỷ đồng, tăng 6,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 1.198,4 tỷ đồng, tăng 2,94%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 1.238,2 tỷ đồng, tăng 6,23%; khu vực dịch vụ đạt 2.765,4 tỷ đồng, tăng 7,81% so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Khu vực nông, lâm nghiệp thủy sản chiếm 23,18%, giảm 1,33%, khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 29,2%, tăng 0,01%, khu vực dịch vụ chiếm 45,53%, tăng 1,3%.

1. Sản xuất nông nghiệp

a. Cây lương thực: Tổng sản lượng lương thực ước đạt 129.042 tấn, tăng 0,6% so với vụ đông xuân năm trước và đạt 49,67% kế hoạch cả năm.

 Lúa đông xuân: Diện tích gieo cấy được 9.330 ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, đạt 101,61% kế hoạch năm; năng suất bình quân ước đạt 58,79 tạ/ha, tăng 0,14 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước; sản lượng ước đạt 54.845 tấn, tăng 1.617 tấn so với vụ đông xuân năm trước, đạt 101,68% kế hoạch.

  Diện tích ngô: Ước 6 tháng đầu năm gieo trồng được 28.952 ha, giảm 158 ha so với cùng kỳ năm trước, đạt 94,58% so với kế hoạch cả năm; năng suất bình quân ước đạt 25,63 tạ/ha; sản lượng ước đạt 74.197 tấn, giảm 880 tấn so với cùng kỳ năm trước và đạt 91,81% kế hoạch năm.

b. Cây công nghiệp:

 - Cây cao su: Diện tích: 5.127 ha, giảm 46 ha so với cùng kỳ năm trước, đạt 99,10% kế hoạch năm, nguyên nhân do chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện Đề án 79 trên địa bàn huyện Mường Nhé.

- Cây cà phê: Dự ước đến tháng 6 năm 2018, diện tích cây cà phê hiện có là 3.940 ha, tăng 84 ha (2,19%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 99% kế hoạch.

- Cây chè: Tổng diện tích cây chè búp hiện có 595 ha, giảm 11 ha so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng búp tươi ước đạt 43 tấn, giảm 0,5 tấn so với cùng kỳ năm trước, đạt 44,69% kế hoạch năm.

 - Cây Mắc ca: Sau thời gian trồng thử nghiệm được đánh giá phù hợp với điều kiện khí hậu thổ nhưỡng của tỉnh. Dự ước 06 tháng đầu năm toàn tỉnh trồng 2.170 ha (trồng thuần tập trung 1.630 ha, trồng xen các loài cây khác 540 ha); sản lượng năm 2017 khoảng 6,7 tấn. Hiên nay, các doanh nghiệp đang tiếp tục đề xuất chủ trương, định hướng trồng mắc ca gắn với chế biến

- Cây công nghiệp ngắn ngày: Cây đậu tương: Diện tích 1.739 ha, đạt 37,65% kế hoạch năm, giảm so với vụ đông xuân năm 2017 là 230 ha. Năng suất ước đạt 13,08 tạ/ha, sản lượng ước đạt 2.275 tấn; Cây lạc: Diện tích: 1.002 ha, đạt 63,42% kế hoạch năm, giảm so với vụ đông xuân năm 2017 là 39 ha. Năng suất ước đạt 12,76 tạ/ha, sản lượng ước đạt 1.278 tấn.

 c. Chăn nuôi: Trong 06 tháng đầu năm 2018 toàn tỉnh có 592.022 con gia súc gồm: Đàn trâu có 127.751 con, tăng 4.281 con so với cùng kỳ năm trước và đạt 100,67% kế hoạch; đàn bò 65.707 con, tăng 5.803 con so cùng kỳ năm trước và đạt 100,71% kế hoạch; đàn lợn 394.530 con, tăng 14.411 con so với cùng kỳ năm trước và đạt 98,06% kế hoạch; đàn gia cầm 4.034 nghìn con, tăng 265 nghìn con so với cùng kỳ năm trước và đạt 99,81% kế hoạch.

Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 2.235 ha, tăng 33 ha so với cùng kỳ năm 2017, đạt 99,68% kế hoạch năm. Sản lượng ước đạt 1.499 tấn, đạt 50,58% kế hoạch năm và tăng 10,53% so với cùng kỳ năm trước.

d. Lâm nghiệp: Dự ước trong 6 tháng đầu năm 2018, các địa phương đã chăm sóc được 417 ha rừng trồng đạt 99% kế hoạch, giao khoán bảo vệ rừng 260.781 ha đạt 96,4% kế hoạch, giao khoán khoanh nuôi tái sinh 2.119 ha đạt 7,79% kế hoạch giao; trồng rừng sản xuất (Chương trình 30a) và phòng hộ 350 ha đạt 11,46% kế hoạch.

Dự án Rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Điện Biên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030: Tiếp tục thực hiện rà soát, đối chiếu thực địa để hoàn thiện trình HĐND tỉnh theo quy định.

e) Đề án tái cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp: Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo Quyết định số 212/QĐ-UBND ngày 25/3/2015 của UBND tỉnh và xây dựng kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp của tỉnh giai đoạn 2018-2020. Đến nay, đã tổ chức xây dựng và xác nhận 11 chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn liên kết giữa doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh với các hộ dân[1]. Triển khai trồng lúa theo mô hình cánh đồng lớn diện tích 63 ha ở xã Thanh Yên, Thanh Hưng, huyện Điện Biên cho kết quả tốt. Một số liên kết đã đi vào hoạt động ổn định, có hiệu quả[2]. Đã thu hút thêm được 3 doanh nghiệp đầu tư vào ngành, lĩnh vực nông lâm nghiệp, nâng số doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp của tỉnh lên 15 doanh nghiệp. Hiện tại một số doanh nghiệp đang hoàn thiện thủ tục để đầu tư trồng cây Mắc ca gắn với chế biến và nuôi bò sữa;

Đã tiến hành khảo nghiệm, sản xuất thử các giống cây trồng các loại (chủ yếu là lúa, ngô, khoai tây…), trong đó, có những giống thể hiện được những ưu điểm về năng suất, chất lượng và được nhân dân đánh giá cao như các giống lúa, các giống ngô; từng bước chuyển đổi diện tích đất lúa không chủ động nước, diện tích bị ảnh hưởng bởi thiên tai mưa lũ không thể gieo cấy sang trồng cây khác có năng suất, sản lượng và phù hợp với điều kiện.

   2. Về sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) 6 tháng năm 2018 đạt 1.227 tỷ đồng, tăng 8,37% so với cùng kỳ năm trước, đạt 43,37% so với kế hoạch năm trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 2,82%; công nghiệp chế biến tăng 7,95%; sản xuất, phân phối điện tăng 17,32%; cung cấp nước, xử lý rác thải tăng 5,13%. Một số sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: điện sản xuất, gạch xây; Các sản phẩm có sản lượng thấp hơn so với cùng kỳ năm trước và đạt thấp so với kế hoạch là  khai thác than đá.

Đã tập trung chỉ đạo rà soát tiến độ các dự án thủy điện trong quy hoạch và dự án tiềm năng trên địa bàn tỉnh để có giải pháp thúc đẩy đầu tư trong thời gian tới; đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án thủy điện đã phê duyệt chủ trương đầu tư, tiếp tục lựa chọn nhà đầu tư khảo sát, lập dự án khai thác tiềm năng thủy điện trên địa bàn tỉnh[3]; Chỉ đạo rà soát, thực hiện cảnh báo khi vận hành phát điện các nhà máy thủy điện trong mùa mưa lũ. 

   3. Thương mại, dịch vụ - xuất nhập khẩu

- Hoạt động Thương mại: Tình hình lưu thông hàng hoá và dịch vụ thương mại trên thị trường 6 tháng đầu năm 2018 tương đối ổn định; hàng hóa trên thị trường đáp ứng đủ nhu cầu của người dân trên địa bàn tỉnh, chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng 1,37%. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2018 đạt 5.222 tỷ đồng, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt 47% kế hoạch năm. Trong đó kinh tế nhà nước ước đạt 435 tỷ đồng; kinh tế ngoài nhà nước ước đạt 4.786 tỷ đồng.

- Dịch vụ du lịch: Trong 6 tháng đầu năm, thời gian nghỉ lễ, tết kéo dài, cùng với sự kiện Lễ hội Hoa ban năm 2018 lượng du khách đến Điện Biên đã tăng rất cao, cụ thể: đã có trên 490 ngàn lượt khách đến Điện Biên, bằng 72,1% so với kế hoạch năm, tăng 1,57 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách quốc tế đạt 94 ngàn lượt, đạt 63% kế hoạch năm, tăng 1,7 lần so với năm trước. Tổng thu từ hoạt động du lịch trong 6 tháng đầu năm  ước đạt 643,7 tỷ đồng, đạt 56% so với kế hoạch năm, tăng 49% so với cùng kỳ năm 2017.

            - Dịch vụ vận tải  hàng  hóa  và  hành  khách: Trong 6 tháng khối lượng vận chuyển hành khách ước đạt 670 nghìn lượt người, tăng 12,19% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hành khách 136.756 triệu lượt HK.Km, tăng 11,35% so với cùng kỳ năm trước. Khối lượng vận chuyển hàng hóa ước đạt 1.830  ngàn tấn, tăng 15,85% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển hàng hóa ước đạt 76.357 triệu T.Km, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước.

- Lĩnh vực Bưu chính Viễn thông: Tiếp tục được mở rộng và phục vụ ổn định, đến nay, trên toàn tỉnh đã có 138 điểm bưu chính phục vụ, 92 điểm bưu điện văn hóa xã. Ước đến hết tháng 6/2018 tổng số trạm thu phát sóng thông tin di động (BTS) đạt 1.185 trạm (tăng 1% trạm so với cùng kỳ năm 2017); có 130/130 xã, phường, thị trấn có trạm thông tin di động 3G (đạt tỷ lệ 100%). Hiện toàn tỉnh có 501,9 ngàn thuê bao điện thoại, mật độ thuê bao điện thoại đạt 89,1 thuê bao/100 dân.

- Hoạt động xuất - nhập khẩu:

+ Tổng kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 19,8 triệu USD bằng 44,9% so với kế hoạch năm và tăng 40,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó xuất khẩu địa phương ước đạt 8,5 triệu USD; Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: Xi măng Điện Biên, vật liệu xây dựng các loại, xe máy các loại, ngoài ra còn xuất khẩu một số hàng hóa nông lâm sản, may mặc, đồ gia dụng và hàng hóa khác.

+ Tổng kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm ước đạt 11 triệu USD bằng 47,9% so với kế hoạch năm và tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó nhập khẩu địa phương ước đạt 4,4 triệu USD. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu: Máy móc, thiết bị cơ điện phục vụ cho xây dựng thủy điện, ngoài ra còn nhập khẩu một số mặt hàng nông lâm sản, đồ gia dụng và hàng hóa khác.

 4. Hoạt động Tài chính - Ngân hàng  

- Tổng thu ngân sách địa phương 6 tháng đầu năm ước đạt 4.863 tỷ 837 triệu đồng, đạt 53,26% dự toán HĐND tỉnh giao, trong đó thu ngân sách trên địa bàn ước đạt 531.322/1.078.094 triệu đồng, bằng 52,65% dự toán trung ương giao và 49,28% dự toán HĐND tỉnh giao.

- Tổng chi ngân sách địa phương: ước thực hiện 4.123 tỷ 235 triệu đồng, đạt 45,5% dự toán HĐND tỉnh giao. Trong đó: Chi đầu tư phát triển: Ước thực hiện: 348 tỷ 360 triệu đồng, đạt 49,33% so với dự toán giao. Chi thường xuyên: Ước thực hiện 3.117 tỷ 721 triệu đồng, đạt 50,63%  dự toán HĐND tỉnh giao

- Hoạt động ngân hàng: Đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Trung ương trong thực hiện quản lý hoạt động tiền tệ tín dụng trên địa bàn đảm bảo chặt chẽ, đúng định hướng. Tổng dư nợ tín dụng ước thực hiện đến 30/6/2018 là 17.370 tỷ đồng, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 44,71% so với kế hoạch đầu năm; Chất lượng tín dụng được đảm bảo, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,01%/tổng dư nợ.

            5. Về phát triển doanh nghiệp: 6 tháng đầu năm, dự ước có 70 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn 368 tỷ đồng, nâng số doanh nghiệp toàn tỉnh lên 1.190 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký 19.298 tỷ đồng và 193 chi nhánh, văn phòng đại diện của các doanh nghiệp đăng ký hoạt động tại địa phương[4].

Kinh tế tập thể và hộ kinh doanh tiếp tục được khuyến khích phát triển, dự ước 6 tháng đầu năm thành lập 8 hợp tác xã với tổng số vốn đăng ký là 11,9 tỷ đồng, 550 hộ kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 82,66 tỷ đồng. Đến 30/6/2018 toàn tỉnh có 215 hợp tác xã với tổng số vốn đăng ký 277,26 tỷ đồng; 17.223 hộ kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 2.215 tỷ đồng.

Công tác thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp và công tác bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp tiếp tục được triển khai thực hiện theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt[5].

6. Về thu hút đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

- Tiếp tục tập trung chỉ đạo cải thiện các chỉ số đánh giá môi trường kinh doanh; Tiếp tục rà soát, nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính; công khai, minh bạch các TTHC, quy trình, quy định hành chính để doanh nghiệp, cá nhân tiếp cận dễ dàng nhất; đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong đó tập trung vào các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo để tạo động lực, sự đột phá về thu hút đầu tư vào tỉnh. Qua đánh giá của VCCI về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2017 của tỉnh đạt 60,57 điểm, xếp hạng 48/63 tỉnh, thành phố (Tăng 05 bậc so với năm 2016). Chỉ số công khai ngân sách tỉnh (POBI) năm 2017 tỉnh Điện Biên đứng thứ 13/63 tỉnh, thành phố; Chỉ số Cải cách hành chính của tỉnh đạt 24/63, tỉnh thành phố tăng 18 bậc (Năm 2016 là 42/63).

Từ đầu năm đến nay đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và quyết định chủ trương đầu tư cho 11 dự án với tổng mức đầu tư đăng ký trên 01 nghìn tỷ đồng[6]. Có 09 dự án hoàn thành đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 364 tỷ đồng. Đến nay đã có 133 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 22 nghìn tỷ đồng; tiếp tục vận động xúc tiến đầu tư vào các lĩnh vực có lợi thế như: thủy điện, khai thác vật liệu xây dựng, du lịch, trồng rừng, cây công nghiệp và chăn nuôi....Đã thẩm định hồ sơ Báo cáo trình Ban Thường vụ cho ý kiến đối với 06 dự án[7]

  - Trong 06 tháng đầu năm 2018 đã tích cực chỉ đạo các nhà đầu tư và các cơ quan chức năng hoàn tất thủ tục để đẩy nhanh tiến độ thực hiện 04 dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP)[8];

7. Khoa học - Công nghệ, Tài nguyên - Môi trường

 a. Khoa học công nghệ: Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ bằng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách tiếp tục được triển khai thực hiện với 15 danh mục đề tài, dự án tiếp chi và 23 danh mục đề tài, dự án mới bắt đầu triển khai năm 2018. Công tác đo lường chất lượng được đẩy mạnh, công tác thanh tra, kiểm tra chất lượng hàng hóa được tăng cường nhất là vào dịp lễ, tết, đảm bảo lợi ích của nhà sản xuất và người tiêu dùng.

b. Tài nguyên và Môi trường

- Tiếp tục tăng cường công tác quản lý đất đai, thực hiện các cơ chế chính sách quản lý đất đai, đã hoàn thành lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016-2020) cấp tỉnh. Đã phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của 10/10  huyện thị xã; lập kế hoạch định giá đất 2018 và danh mục dự án cần thu hồi đất, dự án có sử dụng đất lúa, đất rừng phòng hộ năm 2018.

- Triển khai đấu giá đất trên địa bàn toàn tỉnh nhằm khai thác nguồn lực đất đai, tăng thu cho ngân sách địa phương, 6 tháng đầu năm 2018 hoàn thiện hồ sơ để đấu giá 168 ha đất trên địa bàn 10 huyện, thị xã, thành phố.

- Tính đến 31/5/2018 đã thực hiện giao và cấp giấy chứng nhận đất lâm nghiệp có rừng trên địa bàn toàn tỉnh là 260.720 ha với 5642 giấy CNQSD đất. Hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại thành phố Điện Biên Phủ đưa vào vận hành khai thác và sử dụng (9/9 xã, phường, 54.570 thửa đất) và bước đầu triển khai thực hiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính huyện Tủa Chùa.   

- Công tác quản lý cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước, xả thải nước ra môi trường của các đơn vị tổ chức trên địa bàn tỉnh được chú trọng, đã cấp phép xả nước thải vào nguồn nước cho 100% các trung tâm y tế, bệnh viện. Đã hoàn thành công tác cắm mốc giới hành lang bảo vệ nguồn nước cho các công trình hồ chứa thuỷ điện Sơn La và các nhà máy thuỷ điện.

8. Lĩnh vực đầu tư phát triển

8.1. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội, dự ước 6 tháng đầu năm 2018 đạt khoảng 3.852,27 tỷ đồng, đạt 38% so với kế hoạch và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó:

- Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước: Tổng kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn NSNN năm 2018 do địa phương quản lý là 2.159 tỷ 303 triệu đồng. Đến thời điểm báo cáo ước thực hiện giải ngân (đến ngày 30/6/2018) là 894 tỷ 272 triệu đồng, đạt 41,4% so với kế hoạch vốn giao.

- Vốn đầu tư từ ngân sách do các Bộ ngành Trung ương quản lý: Ước thực hiện 6 tháng năm 2018 đạt 928,6 tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước, đạt 35,4% kế hoạch năm;

- Vốn đầu tư doanh nghiệp và dân cư: ước thực hiện trong 6 tháng đầu năm ước đạt 1.962,3 tỷ đồng, đầu tư xây dựng nhà ở, nhà cho thuê, xây dựng trụ sở công ty, mua sắm máy móc phục vụ sản xuất.

8.2. Triển khai các dự án trọng điểm của tỉnh

a) Dự án bổ sung đoạn tuyến từ Đường Võ Nguyên Giáp đến khu TĐC Noong Bua (Đường 60m): Đã sửa đổi bổ sung chính sách đặc thù cụ thể cho phù hợp với thực tế để tháo gỡ khó khăn trong công tác bồi thường, GPMB và tạm ứng ngân sách địa phương để triển khai thực hiện dự án theo quyết định phê duyệt tiếp tục báo cáo chính phủ bổ sung nguồn vốn để hoàn thành dự án.

b) Dự án Hạ tầng kỹ thuật khung: Đã tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác bồi thường GPMB hỗ trợ tái định cư, lồng ghép sử dụng các nguồn vốn đẩy nhanh tiến độ thi công các điểm Tái định cư dự án theo tiến độ đã phê duyệt.

c) Đề án sắp xếp, ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé: Đã cơ bản bố trí sắp xếp ổn định tại chỗ cho số hộ thuộc 128 bản đã ổn định về đất ở và đất sản xuất, không diễn ra tình trạng di cư tự do. Đã thực hiện di chuyển và bố trí, sắp xếp ổn định cho 1.647 hộ để thành lập 32 bản mới và bố trí xen ghép vào 6 bản đã ổn định. Đến nay tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị ở cơ sở từng bước được kiện toàn[9], tình hình trật tự - an toàn xã hội từng bước được ổn định. Tiếp tục hoàn thiện các công trình kết cấu hạ tầng, triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ, ổn định đời sống sản xuất cho người dân, xây dựng kế hoạch triển khai các nội dung, nhiệm vụ theo Đề án điều chỉnh, bổ sung theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

d) Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới: Đã Thành lập Hội đồng để thẩm định các tiêu chí trong Bộ tiêu chí về xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Điện Biên giai đoạn 2017-2020; thực hiện Kế hoạch xây dựng nông thôn mới trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn cấp huyện giai đoạn 2017-2020; nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất; nâng cao đời sống, cơ sở vật chất văn hóa, xã hội, môi trường; củng cố hệ thống tổ chức chính trị và giữ vững an ninh trật tự xã hội. Tổ chức thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới theo Bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Điện Biên giai đoạn 2017-2020 đã được UBND tỉnh phê duyệt.

Tính đến hết năm 2017 trên địa bàn toàn tỉnh có tổng số 16 xã đạt chuẩn và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới (gồm 13 xã đạt chuẩn và 3 xã cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới), chỉ đạo duy trì kết quả và nâng cao chất lượng các tiêu chí đối với các  xã đã đạt và cơ bản đạt chuẩn NTM năm 2017 và phấn đấu đến hết năm 2018 nâng tổng số đạt chuẩn và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới trên địa bàn toàn tỉnh lên 22 xã (gồm 15 xã đạt chuẩn và 7 xã cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới).

đ) Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững: Tiếp tục triển khai công tác chuẩn bị đầu tư dự án trong kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2016-2020 của tỉnh. Nhìn chung, các dự án khởi công mới và chuẩn bị đầu tư hiện chưa xong thủ tục đấu thầu và chưa hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư, chưa được phê duyệt quyết định đầu tư nên chưa ứng hoặc thanh toán vốn. Đã chủ động vận động các nguồn vốn xã hội hóa, lồng ghép thực hiện các mục tiêu, dự án của chương trình; tăng cường sự tham gia, giám sát của người dân trong thực hiện đầu tư các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng.

e) Đường Na Sang (Km146+200/QL.12) - TT xã Huổi Mí - Pú Xi - Nậm Mức (Km450/QL.6) - Km456/QL.6 - Thị trấn Tủa Chùa - Huổi Lóng, tỉnh Điện Biên (Phân đoạn TT. Tủa Chùa - Nậm Mức - Huổi Mí): Đã hoàn thành bước thiết kế bản vẽ thi công, Kế hoạch đấu thầu, hiện đang tổ chức lựa chọn nhà thầu thi công xây lắp cũng như triển khai công tác đền bù, giải phóng mặt bằng.

f) Các dự án thực hiện theo hình thức PPP: Đã phê duyệt nhiệm vụ thiết kế Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu dân cư hai bên tuyến đường Thanh Minh - Đồi Độc Lập thành phố Điện Biên Phủ; tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án đầu tư xây dựng Đường Thanh Minh - đồi Độc Lập và khu dân cư (đường vành đai phía Bắc), thành phố Điện Biên Phủ; dự án Khu tái định cư các hộ dân đường 15m từ cầu A1 xuống cầu C4 - thành phố Điện Biên Phủ) và dự án Chợ thị trấn Tuần Giáo. Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh việc kêu gọi, thu hút các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư để phát triển kết cấu hạ tầng đô thị trên địa bàn tỉnh.

g) Triển khai thực hiện Quy hoạch cảng hàng không Điện Biên: Đã triển khai thực hiện công bố quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Điện Biên giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; ban hành văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cường công tác quản lý đất đai nằm trong quy hoạch sân bay; phối hợp với Cục hàng không Việt Nam, Bộ Giao thông và Vận tải triển khai xúc tiến thu hút đầu tư xây dựng Cảng hàng không Điện Biên; khảo sát tổng hợp nhu cầu GPMB và lựa chọn địa điểm quy hoạch khu Tái định cư.

h) Chương trình, dự án đăng ký báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong năm 2018: Tập trung tiếp thu, hoàn thiện Đề án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ đến năm 2030 theo các ý kiến tham gia góp ý của các Bộ, ngành Trung ương[10]. Đã hoàn thành việc xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ về dự án Khu lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Mường Phăng và Đền thờ tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ tại đồi F và tiếp tục tham mưu cho Tỉnh ủy báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước khi phê duyệt.

II. Lĩnh vực Văn  hoá - Xã hội

  1. Lao động, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cai nghiện ma túy và phòng chống HIV/AIDS:

- Tình hình giải quyết việc làm và đào tạo nghề: Dự ước trong 6 tháng đầu năm giải quyết việc làm mới cho 5.228 lao động, đạt 60,8% kế hoạch, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước; tuyển mới đào tạo nghề cho 4.100 lao động, đạt 51,3% kế hoạch năm, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017. Xuất khẩu lao động được 23 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; đưa 760 lao động đi làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất ngoại tỉnh, tăng 460 người so với cùng kỳ năm trước.

Các chính sách xã hội như trợ cấp, cứu đói, cấp phát bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách xã hội được tiếp tục thực hiện tốt. Trong 6 tháng đầu năm, đã tiếp tục chi trả trợ cấp xã hội hàng tháng cho 14.497 đối tượng, tăng 302 đối tượng so với cùng kỳ năm 2017; tổ chức cấp phát 402,2 tấn gạo cứu đói đứt bữa nhân dịp Tết nguyên đán cho 6.346 hộ, 26.812 nhân khẩu, phân bổ 1.172,6 tấn gạo cứu đói cho 15.616 hộ với 73.723 khẩu thiếu đói trong thời gian giáp hạt. Số hộ nghèo đầu năm 2018 là 51.188 hộ (chiếm 41,01% tổng số hộ), 11.782 hộ cận nghèo (chiếm 9,44%).

Về công tác phòng, chống tệ nạn xã hội: Việc thực hiện điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, tiếp tục được duy trì thực hiện tốt, 06 tháng đầu năm tiếp nhận mới điều trị 156 bệnh nhân. Đến nay có tổng số 08 cơ sở điều trị và 29 điểm cấp phát thuốc cho 2.647 bệnh nhân, đạt 76,1% kế hoạch năm (tăng 08 điểm cấp phát thuốc so với cùng kỳ năm trước), các bệnh nhân đều đáp ứng tốt với điều trị.

Về phòng chống HIV/AIDS: Các hoạt phòng, chống HIV/AIDS đã được triển khai đồng bộ trên địa bàn tỉnh, tính đến 15/5/2018 có 120/130 xã, phường, thị trấn thuộc 10/10 huyện, thị xã, thành phố có người nhiễm HIV. Tổng số tích lũy toàn tỉnh có 7.220 ca nhiễm HIV (tăng 211 ca so với cùng kỳ năm trước).

2. Y tế - Dân số kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc trẻ em

Tham mưu cho Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCH trung ương, khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy Về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCH trung ương đảng, khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới

Trong 6 tháng đầu năm, trên địa bàn không có dịch bệnh lớn xảy ra, tổng số lượt khám bệnh ước đạt 497.600 lượt người, đạt 49,9% kế hoạch năm, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi ước tính 34,9%o giảm 12,2%o so với cùng kỳ năm trước. Đã tổ chức triển khai thành công “Chiến dịch tăng cường tuyên truyền vận động lồng ghép cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ” đợt I tại 60 xã (đạt 100% KH chiến dịch).

Công tác Bảo vệ và chăm sóc trẻ em luôn được các cấp lãnh đạo quan tâm, triển khai và tổ chức các hoạt động hưởng ứng “Tháng hành động vì trẻ em”. Tiếp tục duy trì quy mô nuôi dưỡng 80 cháu tại Trung tâm Bảo trợ xã hội và 127 cháu là trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Điện Biên Phủ.

3. Về Giáo dục - Đào tạo

Tiếp tục ổn định mạng lưới trường, lớp; hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất, bổ sung thiết bị dạy học; ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn; tỷ lệ huy động dân số trong độ tuổi đến trường tiếp tục tăng ở nhiều độ tuổi, đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch giao. Đến cuối năm học 2017-2018, toàn tỉnh có tổng số 525 trường mầm non, phổ thông và trung tâm giáo dục, trong đó 513 trường mầm non và phổ thông (có 499 trường đang hoạt động giáo dục); có 301/499 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 60,3%; 247 trường được cấp giấy chứng nhận chất lượng giáo dục, đạt 49,5%. Quy mô học sinh đến cuối năm học là 184.008 học sinh (giảm  127 học sinh, tương đương 0,07% so với đầu năm học).

Toàn tỉnh có 2.449 học sinh theo học hướng nghiệp tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp và 1.046 học viên học tại 08 Trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh; các Trung tâm Ngoại ngữ - Tin học[11] và Trung tâm Ngoại ngữ đã thu hút hơn 1.903 học viên tham gia đào tạo.

Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên([12]), Tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia năm 2017-2018. Kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ tiếp tục duy trì vững chắc và từng bước nâng cao các chỉ số, tiêu chí đạt chuẩn theo quy định([13]).Các trường Cao đẳng tỉnh đã thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, năm học 2017-2018, quy mô đào tạo chính quy của 03 trường cao đẳng Sư phạm, Kinh tế - Kỹ thuật, Y tế tiếp tục giảm với tổng số 1.496 học sinh, sinh viên theo kế hoạch giao. Thực hiện tuyển mới được 506 học sinh, sinh viên (gồm cao đẳng 426 sinh viên, trung cấp 80 học sinh), giảm 19,6% so với năm học trước và chỉ đạt 50,6% chỉ tiêu kế hoạch giao. Ngoài ra, các trường tổ chức nhiều loại hình đào tạo khác như: liên thông, tại chức và đào tạo sơ cấp, bồi dưỡng ngắn hạn, liên kết đào tạo đại học cho 1.803 người, thạc sỹ cho 581 người.

  4. Văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình

4.1 Văn hóa, thông tin, thể dục thể thao

- Tổ chức thành công một số sự kiện văn hóa, văn nghệ lớn([14]), Công tác bảo tồn, phát huy giá trị của các di sản văn hóa, tiếp tục được quan tâm: tập trung khảo sát, lập hồ sơ khoa học các di sản văn hóa phi vật thể của người Dao tại huyện Tủa Chùa, huyện Nậm Pồ và của người Kháng tại huyện Tuần Giáo, huyện Mường Chà để đề nghị Bộ VHTTDL đưa vào danh mục Quốc gia. Tiếp tục bảo vệ, khai thác, phát huy giá trị quần thể di tích Chiến trường Điện Biên Phủ. Dự ước 6 tháng đầu năm đón trên 236 ngàn lượt khách đến tham quan bảo tàng và các điểm di tích tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước.

- Cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" tiếp tục được các cấp, các ngành, các địa phương nhiệt tình hưởng ứng thực hiện. Dự ước số người tập luyện TDTT thường xuyên 6 tháng đầu năm đạt trên 154 ngàn người, đạt 26,96% trên tổng số dân toàn tỉnh (tăng 1,86% so với cùng kỳ năm trước), số hộ gia đình thể thao trên 19,8 ngàn hộ, đạt 16,56% trên tổng số hộ gia đình toàn tỉnh (tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước), tiếp tục duy trì 100% trường phổ thông thực hiện đầy đủ chương trình giáo dục thể chất nội khóa.

   4.2 Phát thanh - Truyền hình: Thực hiện Đề án phát sóng quảng bá kênh truyền hình Điện Biên trên vệ tinh  Vinasat. Đến nay, Đài Phát thanh -Truyền hình tỉnh Điện Biên chính thức phát lên vệ tinh nâng độ phủ sóng truyền hình ĐTV lên 100%. Tổng số giờ tiếp, phát sóng truyền hình Trung ương 6 tháng đầu năm ước đạt 134.302 giờ và số giờ tiếp, phát sóng truyền hình địa phương là 58.708 giờ 100% hộ gia đình xem được Đài Truyền hình Việt Nam. 100% hộ gia đình xem được đài truyền hình địa phương.

Truyền hình trả tiền trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển, tạo điều kiện cho người dân trên địa bàn tỉnh được sử dụng dịch vụ truyền hình với chất lượng cao, nội dung chương trình phong phú với trên 200 kênh truyền hình tiêu chuẩn SD và HD. 6 tháng đầu năm phát triển mới 1.500 thuê bao, đến nay, toàn tỉnh có trên 26.000 thuê bao truyền hình trả tiền bao gồm: Truyền hình cáp Việt Nam - VTVCab, Viễn thông Điện Biên - MyTV, Chi nhánh Viettel Điện Biên - NextTV, Truyền hình kỹ thuật số An Viên - AVG, Truyền hình FPT…)

5. Công tác dân tộc, tôn giáo

- Các địa phương và ngành thực hiện nghiêm túc, kịp thời các chế độ chính sách dân tộc, đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các chương trình, dự án có liên quan đến chính sách dân tộc[15] kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các chương trình, dự án, chính sách cho vùng đồng bào dân tộc, để tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao đời sống đồng bào các dân tộc, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực đặc biệt khó khăn, vùng cao, vùng biên giới

- Đã mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức Dân tộc - Tôn giáo cho 150 cán bộ Hội tại các huyện Mường Chà, Điện Biên, Điện Biên Đông; Phối hợp với Tổng hội Thánh tin lành Việt nam (Miền bắc) tuyên truyền luật tín ngưỡng, tôn giáo cho 92 trưởng, phó nhóm, chấp sự, nhân sự,...

- Thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo; hướng dẫn chức sắc, tổ chức tôn giáo, các điểm nhóm sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật; tiếp tục rà soát, đăng ký hoạt động các điểm nhóm tôn giáo theo quy định. Chủ động phòng ngừa, làm thất bại âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.

- Đã ban hành Kế hoạch thực hiện công tác QLNN về tôn giáo năm 2018; hướng dẫn Ban trị sự Phật giáo tỉnh Điện Biên tổ chức Lễ hội phật giáo mùa Hoa ban lần thứ 4 năm 2018; Chấp thuận chương trình hoạt động tôn giáo năm 2018 của Giáo xứ Điện Biên và Ban trị sự GHPGVN tỉnh Điện Biên; ban hành văn bản chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền địa phương chấn chỉnh, ngăn chặm các hoạt động tôn giáo trái pháp luật.

III. Công tác xây dựng chính quyền, cải cách hành chính, tư pháp, thanh tra

1. Công tác cải cách hành chính và xây dựng chính quyền

Tham mưu Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy Về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCH trung ương, khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCH trung ương, khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ áy của hệ thống chính trị tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đã tổ chức hội nghị hiệp thương giữa tỉnh Điện Biên, Sơn La liên quan đến địa giới hành chính chưa thống nhất được phương án giải quyết; Sơ kết 3 năm thực hiện kết luận số 120-Kl/TW của Bộ Chính trị khóa XI “ Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; Sơ kết 5 năm thực hiện NQ số 25-NQ/TW, ngày 3/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khó XI về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới,...Đôn đốc các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục triển khai thực hiện dự án 513 các tuyến địa giới hành chính cấp huyện, xã.

Đã phê duyệt và công bố Chỉ số CCHC năm 2017 và hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông. Thực hiện nghiêm kỷ cương hành chính, gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, nâng cao chất lượng chuyên môn, đạo đức công vụ của cán bộ công chức trong các lĩnh vực thu hút đầu tư, thẩm định dự án, đất đai, khoáng sản...qua đó chỉ số cải cách hành chính tăng lên. Năm 2017 chỉ số cải cách hành chính vươn lên xếp thứ 24/63 (tăng 18 bậc so với năm 2016).

2. Công tác tư pháp: Trong 6 tháng đầu năm 2018 công tác Tư pháp đã được triển khai đồng bộ, toàn diện, bám sát chương trình kế hoạch công tác của ngành Tư pháp năm 2018 và Chương trình giải pháp chỉ đạo điều hành của UBND tỉnh; Công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL được nâng lên, đảm bảo tiến độ về thời gian góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của tỉnh, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tính hợp hiến, hợp pháp, tính khả thi của văn bản. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, tuyên truyền phổ biến từng bước được nâng lên.

3. Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và Phòng chống tham nhũng lãng phí

Thanh tra các cấp, các ngành đã triển khai được 490 cuộc kiểm tra, thanh tra trên các lĩnh vực([16]). Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện và xử lý nhiều vi phạm về kinh tế, với tổng số tiền 7.175,84 triệu đồng ([17])

Đã hoàn thành báo cáo kê khai tài sản, thu nhập tại 54/54 đơn vị, với 7.485 người phải kê khai tài sản, thu nhập năm 2017; triển khai 08 cuộc thanh tra, kiểm tra trách nhiệm việc thực hiện các quy định của pháp luật tại 10 đơn vị; các cấp, các ngành đã tổ chức tiếp 517 lượt với 583 người, đến khiếu nại, tố cáo, phán ảnh, kiến nghị, trong đó có 05 lượt đoàn đông người; Tổ chức tiếp nhận 442 đơn([18]), đã giải quyết 14/31 đơn  đạt tỷ lệ 45,1% .

IV. Quốc phòng - An ninh, đối ngoại

1. Quốc phòng - An ninh

Thế trận phòng thủ tỉnh, huyện và cơ sở tiếp tục được củng cố, kiện toàn. Hoàn thành tốt công tác tuyển quân năm 2018, công tác huấn luyện, giáo dục quốc phòng, công tác quân sự địa phương thực hiện theo kế hoạch. Tỉnh đã chỉ đạo UBND huyện Tuần Giáo, Mường Chà tích cực chuẩn bị các điều kiện Diễn tập khu vực phòng thủ năm 2018.

Các lực lượng chức năng tích cực triển khai thực hiện kế hoạch trấn áp các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, kinh tế, môi trường[19]; Phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, giải quyết các vấn đề lợi dụng tôn giáo, dân di cư tự do, vi phạm quy chế biên giới... phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động tuyên truyền lập "Vương quốc Mông"; Tổng kết kế hoạch giải quyết tình trạng phá rừng và di cư tự do tại huyện Mường Nhé để bàn giao kết quả thực hiện cho huyện.

- Liên tục mở các đợt cao điểm đảm bảo TTATGT, nhất là dịp nghỉ lễ, tết, nghỉ hè. Tăng cường kiểm tra xử lý các lỗi vi phạm quy định về tốc độ, nồng độ cồn, tải trọng...;

- Các lực lượng chức năng đã tăng cường phối hợp, chủ động nắm chắc tình hình xử lý kịp thời các tình huống phát sinh đảm bảo giữ vững ổn định ANCT, trật tự an toàn xã hội; nắm bắt tình hình và triển khai phương án, phòng ngừa, ngăn chặn, kiến quyết không để các đối tượng tụ tập biểu tình, gây rối khi Quốc hội thảo luận dự án Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt. 

2. Công tác đối ngoại: Triển khai Kế hoạch đối ngoại năm 2018, duy trì tốt mối quan hệ giữa tỉnh Điện Biên với các tỉnh Bắc Lào trên các lĩnh vực; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, các tỉnh phía bắc Thái Lan. UBND tỉnh Điện Biên đã có Công thư mời 4 đoàn đại biểu tỉnh Bắc Lào (Luông Pha Bang, Phông Sa Ly, U Đôm Xay, Bo Kẹo) và tỉnh Nan, Thái Lan tham dự Lễ hội Hoa Ban năm 2018. Duy trì và tăng cường mối quan hệ quốc tế với các Đại sứ quán, tổ chức quốc tế; Tạo điều kiện thuận lợi và tổ chức tốt các cuộc họp với các phái đoàn nước ngoài đến thăm và làm việc tại tỉnh theo các chương trình, dự án.

B. TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

I. Tồn tại hạn chế

- Trong lĩnh vực kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GRDP 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt ước đạt 6,28%, cao hơn so với cùng kỳ năm 2017 (6,1%), tuy nhiên một số lĩnh vực còn thấp như: tốc độ tăng trưởng nông lâm nghiệp, thủy sản mới đạt 2,94% (kế hoạch giao 4,76%); khu vực công nghiệp - xây dựng mới đạt 6,23% (kế hoạch giao 9,7%). Một số chỉ tiêu trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ tăng so với cùng kỳ năm trước, nhưng đạt dưới 50% kế hoạch; Tình trạng vi phạm pháp luật trong quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vẫn còn ; Công tác kêu gọi thu hút các nguồn vốn, dự án đầu tư từ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư vào các lĩnh vực có lợi thế như: thủy điện, cơ sở hạ tầng, chăn nuôi, du lịch mặc dù đã được tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện, tuy nhiên kết quả chưa đạt mục tiêu đề ra.

- Lĩnh vực đầu tư phát triển: Tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án đầu tư do tỉnh quản lý 6 tháng đầu năm 2018 đã có những bước cải thiện so với cùng kỳ năm trước (giải ngân các nguồn vốn đạt đạt 41,4%) nhưng vẫn chậm so với yêu cầu. Một số chương trình, dự án giải ngân còn ở mức thấp như: Chương trình mục tiêu Đầu tư phát triển hệ thống y tế địa phương; Chương trình mục tiêu Phát triển văn hóa; Chương trình mục tiêu Phát triển lâm nghiệp bền vững; Chương trình mục tiêu hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu; Chương trình mục tiêu cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo; Vốn hỗ trợ theo QĐ 22/2013/QĐ/TTg...

- Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội: Chất lượng giáo dục vùng cao, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số còn thấp; Một số bệnh truyền nhiễm vẫn diễn biến phức tạp nguy cơ gây dịch tại các khu vực vùng cao, biên giới; Các tệ nạn xã hội còn phức tạp, hiệu quả công tác cai nghiện ma túy thấp; Việc tổ chức thực hiện các chính sách hỗ trợ đời sống, hỗ trợ phát triển sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội còn chậm. Việc phát huy giá trị của quần thể di tích lịch sử đặc biệt chiến trường Điện Biên Phủ chưa tương xứng với tiềm năng, chưa đáp ứng yêu cầu bảo tồn, quản lý và phục vụ du khách.

 - Công tác xây dựng chính quyền, tư pháp, thanh tra: Vẫn còn hiện tượng sách nhiễu của một số đối tượng cán bộ, công chức gây bức xúc trong nhân dân, việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở một số đơn vị còn mang tính hình thức. Chất lượng tổ chức bộ máy hành chính của tỉnh chưa tạo ra những đột phá lớn, cải cách tổ chức bộ máy trong một số cơ quan chưa rõ nét, hiệu quả hoạt động chưa cao; công tác phối hợp giữa các ngành, địa phương trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ có việc chưa kịp thời. Tính chủ động trong việc xử lý các tồn tại tháo gỡ khó khăn vướng mắc chưa cao.

- Công tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại: Tình trạng xuất nhập cảnh trái phép, tình trạng di cư tự do và truyên truyền đạo trái phép và tuyên truyền thành lập “Vương Quốc Mông” vẫn còn tiếp diễn; Tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội, tội phạm về ma túy ngày càng nghiêm trọng và manh động, trật tự an toàn giao thông tuy có giảm so với cùng kỳ năm trước song vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông trên địa bàn.

II. Nguyên nhân

- Tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh tiếp tục có nhiều diễn biến bất thường, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; mặt khác trong những tháng đầu năm diễn ra Tết nguyên đán của dân tộc và các hoạt động Lễ hội sau Tết ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, việc triển khai Kế hoạch đầu tư công trong những tháng đầu năm chủ yếu tập trung hoàn tất các thủ tục thanh quyết toán năm 2017 và triển khai các bước chuẩn bị đầu tư kế hoạch của năm 2018 nên tiến độ giải ngân chậm so với yêu cầu.

- Công tác quản lý đất đai còn nhiều bất cập, thiếu chặt chẽ; một số ngành, chính quyền địa phương còn chưa chủ động tham mưu, rà soát tháo gỡ khó khăn trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, tuyên truyền vận động người dân trong việc triển khai giải phóng mặt bằng một số dự án, điển hình như: Sở Tài nguyên và Môi trường, thành phố Điện Biên Phủ, huyện Điện Biên.

- Ý thức trách nhiệm trong việc thực thi công vụ của một số cán bộ, công chức trong tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến người dân, doanh nghiệp tại một số đơn vị chưa cao; việc thực hiện công tác giám sát, chỉ đạo của lãnh đạo các ngành, địa phương chưa thực sự sát sao, chất lượng thấp.

- Công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, chất lượng công tác phối hợp tham mưu, chỉ đạo, xử lý của một số ngành, đơn vị trong việc xây dựng kế hoạch, tổ chức chưa thực hiện còn hạn chế. Trình độ, năng lực quản lý của một số chủ Đầu tư, tư vấn chưa đáp ứng; công tác kiểm tra, đôn đốc nắm tiến độ để xử lý, tháo gỡ khó khăn vướng mắc chưa được thường xuyên, kịp thời.

PHẦN THỨ HAI

NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG  6 THÁNG CUỐI NĂM 2018

Dự báo 06 tháng cuối năm 2018, tình hình kinh tế đất nước tiếp tục tăng trưởng, kinh tế vĩ mô ổn định. Tình hình kinh tế - xã hội trong tỉnh có nhiều thuận lợi, giá cả các mặt hàng thiết yếu có xu hướng ổn định hoặc tăng không đáng kể, là điều kiện thuận lợi để triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra. Bên cạnh đó những khó khăn thách thức như thời tiết diễn biến phức tạp, tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp, Nguồn lực đầu tư còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chưa vững chắc, Công nghiệp tăng trưởng chưa ổn định, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng còn hạn chế; tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao; tệ nạn xã hội, buôn bán ma túy, tình trạng di dịch cư tự do là những cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Điện Biên.

Để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh đề ra trong năm 2018 mà Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh đã đề ra, UBND tỉnh và các ngành, các cấp khắc phục các tồn tại hạn chế 06 tháng đầu năm, tăng cường, chủ động thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm và nhóm giải pháp đã đề ra từ đầu năm và các giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018 theo Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ. Trong đó tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:   

I. Phát triển kinh tế

1. Về công tác quy hoạch, kế hoạch: Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Điện Biên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp triển khai thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2018 đã được Tỉnh ủy, HĐND tỉnh thông qua. Trọng tâm là hoàn thành quy hoạch vùng tỉnh; rà soát quy hoạch ngành, lĩnh vực để thực hiện cho phù hợp Luật Quy hoạch; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các chương trình, dự án trọng điểm và xây dựng Kế hoạch phát triển KT-XH, Dự toán thu chi ngân sách năm 2019 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

2. Phát triển nông, lâm nghiệp và kinh tế nông thôn

Tập trung triển khai thực hiện các nội dung tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp của tỉnh giai đoạn đến năm 2020, trong đó tiến hành tổ chức sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án tái cơ cấu; xây dựng hoàn thiện kế hoạch cơ cấu lại nông nghiệp tỉnh Điện Biên giai đoạn 2018-2020 cụ thể:

- Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch sản xuất vụ mùa, vụ hè thu và thu đông. Duy trì mô hình cánh đồng mẫu lớn và phát triển các chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn; Tăng cường kiểm soát đảm bảo chất lượng giống, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu; chủ động phòng trừ sâu bệnh hại, chăm sóc và chủ động nước tưới để nâng cao năng suất cây trồng. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tư thương tham gia sản xuất, chế biến, tiêu thụ các loại nông sản cho nông dân. Củng cố, sửa chữa các công trình thuỷ lợi nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả tưới, tiêu; chuẩn bị các điều kiện phòng chống lụt bão, chủ động đề phòng những diễn biến thời tiết bất thường xảy ra.

- Tập trung chỉ đạo mở rộng diện tích đậu tương, lạc vụ hè thu và vụ đông để phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch giao. Thực hiện việc chăm sóc, quản lý bảo vệ tốt diện tích cây công nghiệp dài ngày hiện có, đẩy mạnh trồng mới cây cà phê theo kế hoạch; tiếp tục phối hợp với tập đoàn Cao su Việt Nam tiến hành mủ rộng diện tích cạo mủ và đánh giá hiệu quả của cây cao su trên địa bàn tỉnh. Tăng cường tổ chức triển khai các dự án trồng cây Mắc ca trên địa bàn theo chủ trương thu hút đầu tư của tỉnh.

- Chủ động xây dựng phương án và đảm bảo lượng vắc xin cho công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm; tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện thực hiện dự án phát triển chăn nuôi tập trung, quy mô lớn. Thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh ở gia súc, gia cầm không để xẩy ra dịch trên địa bàn. Tăng cường quản lý, kiểm soát giết mổ và vệ sinh thú y trên địa bàn.

- Tập trung hoàn thành rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng, tập trung chỉ đạo thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ, khoanh nuôi tái sinh rừng, bảo vệ rừng theo kế hoạch. Tiếp tục thực hiện các chính sách về phát triển lâm nghiệp, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; chỉ đạo giao đất giao rừng đối với phần diện tích rừng đang do UBND cấp xã quản lý. Tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh, ngăn chặn kịp thời việc xâm hại diện tích rừng tự nhiên tại các huyện Nậm Pồ, Mường Nhé, Tuần Giáo, Tủa Chùa. Triển khai sâu rộng kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, phòng chống cháy rừng; tăng cường lực lượng kiểm tra, kiểm soát lâm sản, truy quét quyết liệt các hành vi khai thác, mua, bán, vận chuyển lâm sản trái phép, triệt phá các tụ điểm khai thác, cất giữ lâm sản trái phép.

- Tập trung chỉ đạo thực hiện, hoàn thành các mục tiêu Nông thôn mới theo chỉ tiêu đã đặt ra. Duy trì mô hình cánh đồng lớn cùng chuỗi liên kết hiện có; chỉ đạo xây dựng cánh đồng lớn ở một số huyện có điều kiện. Đẩy mạnh sự tham gia của các cấp các ngành trong việc vận động nhân dân hợp tác, góp đất cùng với các doanh nghiệp thực hiện các dự án trồng cây công nghiệp, dự án sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn tạo chuỗi liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ trên địa bàn tỉnh; thực hiện việc rà soát các chính sách hiện có để xem xét đề nghị sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu thị trường, xúc tiến thương mại; hỗ trợ các đơn vị trong xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm, tem nhãn, trích xuất nguồn gốc sản phẩm. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các công đoạn trong sản xuất, chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm để tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm; kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chất cấm trong chăn nuôi; tiếp tục.

3. Công nghiệp, xây dựng

- Tập trung chỉ đạo tăng cường công tác quản lý tiến độ, quản lý chất lượng các công trình xây dựng để đảm bảo tiến độ thực hiện, giải ngân các chương trình, dự án đầu tư từ ngân sách và dự án đầu tư của các thành phần kinh tế, nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng lĩnh vực công nghiệp - xây dựng trong đó tập trung vào các dự án trọng điểm của tỉnh, các dự án thuộc các chương trình Mục tiêu, Mục tiêu quốc gia.. Tiếp tục thực hiện tốt chính sách khuyến công hỗ trợ các cơ sở tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn. Thúc đẩy phát triển sản xuất vật liệu xây dựng,

- Tập trung chỉ đạo rà soát tháo gỡ khó khăn các dự án thủy điện đang triển khai trong quy hoạch trên địa bàn tỉnh để đảm bảo tiến độ thực hiện, chỉ đạo tháo gỡ khó khăn về thủ tục đầu tư và vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến nông lâm sản. Tiếp tục đôn đốc, chỉ đạo quyết liệt các ngành, địa phương thường xuyên nắm bắt tình hình các dự án đã khởi công và hoạt động của các dự án đã hoàn thành để kịp thời có các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đẩy nhanh tiến độ và phát huy hiệu quả sau đầu tư. Đôn đốc đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp trọng điểm về thủy điện; tiếp tục chỉ đạo rà soát tình hình triển khai các dự án công nghiệp đã được cấp phép, kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ, hiệu quả thấp. Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, sản phẩm

- Hoàn thiện Đề án phát triển hệ thống đô thị tỉnh Điện Biên đến năm 2020, tăng cường khai thác các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội các khu dân cư đô thị mới tại các đô thị, trọng tâm là thành phố Điện Biên Phủ để đủ điều kiện lên đô thị loại 2 vào năm 2020; tăng cường công tác quản lý các dự án đầu tư theo quy hoạch trên địa bàn tỉnh theo quy hoạch.  

- Tiếp tục tạo môi trường đầu tư thông thoáng cho các nhà đầu tư khảo sát, tìm kiếm cơ hội đầu tư các dự án công nghiệp khai thác khoáng sản, chế biên nông, lâm sản trong đó trọng tâm giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thủ tục, đất đai, chính sách tín dụng đối với các dự án đã và đang cấp phép và chủ trương đầu tư để sớm khởi công xây dựng.

- Tăng cường công tác quản lý quy hoạch và chủ động phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện theo quy hoạch điều chỉnh sân bay đã được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt.

 4. Về thương mại, dịch vụ- xuất nhập khẩu

a) Phát triển dịch vụ du lịch: Triển khai hoàn thiện các nội dung trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, trọng tâm là hoàn thiện đề án Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ gắn với phát triển du lịch tỉnh Điện Biên đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; mở rộng các hoạt động liên kết, đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện thành công Lễ kỷ niệm ngày 65 năm chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 07/5/2019.

b) Dịch vụ thương mại: Tiếp tục khuyến khích đầu tư và hỗ trợ hoàn thiện hạ tầng thương mại tại các khu đô thị; tạo điều kiện để phát triển mở rộng mạng lưới kinh doanh thương mại theo quy mô hộ kinh doanh cá thể để tạo điều kiện phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa. Thực hiện các giải pháp đảm bảo cân đối cung cầu, bình ổn thị trường, đảm bảo cung cấp các mặt hàng thiết yếu và thu mua nông sản hàng hóa cho nhân dân nhất là trong mùa mưa lũ

- Tạo thêm điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đổi mới công nghệ, đầu tư vào các ngành có tiềm năng phát triển tốt.

- Tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng các loại dịch vụ, thực hiện tốt công tác dự báo cung cầu, diễn biến giá cả thị trường hàng hóa, dịch vụ thương mại; đẩy mạnh công tác xúc tiến, phát triển thương mại đến vùng nông thôn và thương mại biên giới; nâng cao chất lượng các dịch vụ vận tải, thông tin liên lạc, tín dụng đáp ứng nhu cầu của các thành phần kinh tế và người dân.

c) Vận tải, bưu chính viễn thông: Tiếp tục tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, hỗ trợ đầu tư hạ tầng để phát triển mở rộng, nâng cao chất lượng thị trường dịch vụ vận tải và bưu chính viễn thông đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Đa dạng hóa loại hình, nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải; đẩy mạnh tốc độ phổ cập dịch vụ bưu chính, viễn thông và CNTT tới vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội.

d) Xuất, nhập khẩu: Tiếp tục khai thác có hiệu quả các cửa khẩu, lối mở, lợi thế thương mại trên địa bàn. Tiếp tục cập nhật thông tin thị trường, điều chỉnh định hướng sản xuất hàng hóa xuất khẩu chủ lực phù hợp để nâng cao tỷ trọng hàng địa phương trong kim ngạch xuất khẩu;

5. Tài chính - Ngân hàng

- Tập trung chỉ đạo công tác thu ngân sách, tăng cường các biện pháp chống thất thu ngân sách, hạn chế thấp nhất việc nợ đọng thuế; tăng cường các giải pháp thu đúng, thu đủ các khoản thu vào ngân sách, ngăn chặn gian lận thuế, đặc biệt là các khoản thu liên quan đến tài nguyên, chuyển nhượng bất động sản, thuế thu nhập cá nhân; phấn đấu hoàn thành và vượt kế hoạch giao về thu ngân sách trên địa bàn.

- Chỉ đạo quản lý chi ngân sách chặt chẽ, đúng chế độ quy định, đẩy mạnh công tác quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành theo phân cấp. Tập trung xử lý rứt điểm tình trạng tồn đọng quyết toán các Dự án hoàn thành từ năm 2005 đến năm 2014 theo chỉ đạo tại Công văn số 4819/BTC-ĐT ngày 08/4/2018 của Bộ Tài chính. Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết 01/NĐ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về tập trung thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt; chính sách tài khóa chặt chẽ, quản lý và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh, xã hội.

- Thực hiện kịp thời các chính sách tín dụng ưu đãi cho các đối tượng đúng quy định của Chính phủ và Ngân hàng trung ương. Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng để thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nhất là các lĩnh vực đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, đổi mới công nghệ.

6. Khoa học công nghệ, tài nguyên môi trường

- Khoa học, công nghệ: Tiếp tục thực hiện xét duyệt, nghiệm thu các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học triển khai trong năm 2018; Xây dựng nhiệm vụ khoa học và xét duyệt danh mục đề tài, dự án khoa học, công nghệ năm 2019; Tiếp tục thực hiện tốt các hoạt động quản lý công nghệ và an toàn bức xạ hạt nhân, sở hữu trí tuệ và sáng kiến, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, hoạt động thông tin khoa học.

- Tài nguyên môi trường: Tiếp tục triển khai nhiệm vụ đo đạc, lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; giải quyết những vướng mắc trong quản lý nhà nước về đất đai, đặc biệt là việc giao đất, chuyển quyền sử dụng đất, thu hồi đất; chính sách về giá đất trong đền bù giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Triển khai có hiệu quả Chương trình ứng phó biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh công tác truyền thông, nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ của biến đổi khí hậu và những biện pháp thích ứng, giảm nhẹ biến đổi khí hậu; tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

7. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư; phát triển các thành phần kinh tế

a) Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút các nguồn lực đầu tư:

- Thực hiện Kế hoạch hành động theo Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018, những năm tiếp theo.

- Tiếp tục tập trung rà soát các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư các dự án trên địa bàn tỉnh. Tập trung rà soát các thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư, từng bước cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

- Tập trung rà soát cơ chế chính sách, chuẩn bị tốt các chương trình dự án làm cơ sở thu hút, kêu gọi nguồn vốn đầu tư từ khu vực doanh nghiệp, tư nhân đầu tư vào các lĩnh vực có thế mạnh, tiềm năng của tỉnh.

b) Phát triển các thành phần kinh tế: Tạo hành lang pháp lý thông thoáng, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, trên cơ sở thực hiện nghiêm túc Luật Doanh Nghiệp, Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Thực hiện có hiệu quả việc thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp và bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp theo kế hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

- Phát triển các Hợp tác xã, các mô hình kinh tế tập thể, mô hình trang trại trong sản xuất thủ công nghiệp và nông nghiệp có sự liên kết 4 nhà: Nhà nước - Nhà nông - Nhà doanh nghiệp - Nhà khoa học, gắn sản xuất với thị trường, trao đổi hàng hóa. Rà soát chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với các mô hình sản xuất tập thể, trang trại để các cơ quan chức năng của nhà nước tăng cường biện pháp tác động phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi xây dựng, phát triển, nhân rộng các mô hình sản xuất có hiệu quả.

8. Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả đầu tư

- Trong 6 tháng cuối năm 2018, tiếp tục có những giải pháp kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong triển khai kế hoạch đầu tư công nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân. Chủ động theo dõi chặt chẽ tình hình giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công của các dự án, kịp thời điều chỉnh kế hoạch từ các dự án giải ngân chậm sang các dự án có nhu cầu bổ sung vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân. Tăng cường công tác chỉ đạo các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng, chủ động tháo gỡ khó khăn vướng mắc đẩy nhanh tiến độ thi công công trình. Hoàn thiện và hướng dẫn triển khai thống nhất toàn tỉnh hệ thống thông tin về đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước theo quy định của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Quản lý, kiểm soát chặt chẽ việc điều chỉnh các dự án đầu tư xây dựng: Chỉ được điều chỉnh các dự án trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 46 Luật Đầu tư công. Chủ động phối hợp với các ngành tham mưu cho UBND tỉnh xem xét không giao các công trình, dự án, chương trình mới cho các Chủ đầu tư có công trình, dự án triển khai không đảm bảo chất lượng, tiến độ giải ngân chậm kéo dài, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực của nhà nước. Tập trung chỉ đạo về quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, GPMB, đẩy nhanh tiến độ thực hiện.

- Tăng cường công tác quản lý giá trong lĩnh vực xây dựng. Liên ngành Tài chính - Xây dựng có trách nhiệm thông báo đơn gía vật liệu xây dựng từng quý trên địa bàn các huyện, thị xã và thành phố. Công bố giá công khai tại các điểm mỏ khai thác vật liệu xây dựng trên địa bàn các huyện để thống nhất quản lý

9. Các chương trình dự án trọng điểm

a) Dự án bổ sung đoạn tuyến từ Đường Võ Nguyên Giáp đến khu TĐC Noong Bua (Đường 60m): Tiếp tục chỉ đạo tháo gỡ khó khăn trong công tác bồi thường, GPMB đồng thời đẩy nhanh tiến độ thi công các hạng mục công việc còn lại theo quyết định phê duyệt dự án và thực hiện quyết toán dự án theo ý kiến chỉ đạo của Chính phủ.

b) Dự án Hạ tầng kỹ thuật khung: Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân; về công tác bồi thường, hỗ trợ tái định cự, giải phóng mặt bằng dự án: Hoàn thiện hồ sơ thực hiện việc cưỡng chế kiểm đếm và cưỡng chế thu hồi đất đối với những hộ gia đình cá nhân cố tình chống đối việc thực hiện thu hồi đất trong trường hợp đã thực hiện đầy đủ các quy định trình tự thủ tục của pháp luật về thu hồi đất. Kiểm tra rà soát và thực hiện việc tạm giao đất trên hồ sơ cho các đối tượng đủ điều kiện được bố trí đất tái định cư trên sơ đồ quy hoạch và dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt theo quy định, đảm bảo đúng người, đúng đối tượng;

c) Đề án sắp xếp, ổn định dân cư phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé: Trên cơ sở nội dung Đề án điều chỉnh được phê duyệt theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục tổng hợp nhu cầu vốn đề xuất các Bộ, ngành Trung ương bố trí vốn để triển khai thực hiện Đề án, trong đó tập trung bố trí cho các điểm bản mới chưa được đầu tư công trình hạ tầng hoàn thiện; các dự án đang triển khai thực hiện dở sang. Đối với các điểm bản đã di chuyển bố trí sắp xếp dân cư khẩn trương thực hiện các chính sách hỗ trợ cho các hộ chuyển đến. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn vốn sự nghiệp (bình quân 67%), tiếp tục tuyên truyền vận động và di chuyển lấp đầy các điểm bản đã được đầu tư cơ sở hạ tầng theo phương án quy hoạch…

d) Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng Nông thôn mới: Tập trung chỉ đạo xây dựng và thực hiện hoàn thành kế hoạch xây dựng nông thôn mới năm 2018. Đảm bảo mục tiêu đến hết năm 2018 có 15 xã đạt chuẩn nông thôn mới và có 07 xã cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới. Nâng tổng số đạt chuẩn và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mói đến hết 2018 lên 22 xã. Số xã dưới 5 tiêu chí xuống còn 27 xã, giảm 14 xã so với năm 2017. Số tiêu chí đạt bình quân các xã là 6,73 tiêu chí/xã, phấn đấu mức đạt tiêu chí bình quân/xã là 7,04 tiêu chí/xã.

đ) Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững: Tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn cấp xã triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo. Triển khai có hiệu quả các dự án về truyền thông, tăng cường kiểm tra, giám sát đánh giá để đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình.

e) Đường Na Sang (Km146+200/QL.12) - TT xã Huổi Mí - Pú Xi - Nậm Mức (Km450/QL.6) - Km456/QL.6 - Thị trấn Tủa Chùa - Huổi Lóng, tỉnh Điện Biên (Phân đoạn TT. Tủa Chùa - Nậm Mức - Huổi Mí): Đẩy mạnh công tác giải phóng mặt bằng, chỉ đạo chủ đầu tư phối hợp với các đơn vị liên quan lập hồ sơ chuyển đổi mục đích rừng và đất lâm nghiệp hoàn thiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi giao đất. Chỉ đạo đôn đốc tổ chức triển khai thực hiện và giải ngân theo đúng kế hoạch đã được UBND tỉnh phê duyệt;

f) Các dự án thực hiện theo hình thức PPP: Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh, cụ thể:

- Đối với dự án Khu tái định cư các hộ dân đường 15m từ cầu A1 xuống cầu C4 - thành phố Điện Biên Phủ: Thực hiện việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư, hoàn thiện hồ sơ thủ tục, ký kết Hợp đồng BT với nhà đầu tư và tập trung thực hiện công tác GPMB để triển khai thi công, thực hiện dự án theo quy định.

- Đối với dự án đầu tư xây dựng đường Thanh Minh - đồi Độc Lập và khu dân cư (đường vành đai phía Bắc), thành phố Điện Biên Phủ: Tiếp tục chỉ đạo Nhà đầu tư đề xuất dự án, các ngành, đơn vị liên quan hoàn thiện hồ sơ trình duyệt dự án, Kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư và tổ chức lựa chọn nhà đầu tư để triển khai thực hiện các bước tiếp theo của dự án theo quy định hiện hành.

- Đối với Dự án Chợ thị trấn Tuần Giáo, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên: Tiếp tục chỉ đạo Nhà đầu tư đề xuất dự án, các ngành, đơn vị liên quan hoàn thiện hồ sơ trình duyệt dự án, Kế hoạch lựa chọn nhà đầu tư và tổ chức lựa chọn nhà đầu tư để triển khai thực hiện các bước tiếp theo của dự án theo quy định hiện hành

- Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh việc kêu gọi, thu hút các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư để phát triển kết cấu hạ tầng đô thị trên địa bàn tỉnh; đồng thời hướng dẫn các Nhà đầu tư đề xuất dự án tiến hành lập các dự án đầu tư theo đúng các quy định của Nghị định số 63/2018/NĐ-CP ngày 04/5/2018 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

g) Chương trình, dự án đăng ký báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong năm 2018: Tiếp tục hoàn thiện Đề án Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến trường Điện Biên Phủ đến năm 2030 tham mưu cho Tỉnh ủy trình xin ý kiến Bộ Chính trị, Ban Bí thư và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chuẩn bị đầy đủ nội dung làm việc và hồ sơ các dự án Khu lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Mường Phăng và Đền thờ tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ tại đồi F để báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước khi phê duyệt. Triển khai thực hiện công tác thi tuyển kiến trúc, huy động nguồn lực triển khai thực hiện Dự án.

h) Đề án ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội vùng tái định cư thủy điện Sơn La: Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 666/QĐ-TTg ngày 31/5/2018, tiếp tục chỉ đạo UBND các huyện, thị xã thành phố triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ và các hạng mục đầu tư theo quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ đối với vùng đồng bào tái định cư thủy điện Sơn La sau khi được Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương bố trí vốn.

i) Triển khai thực hiện quy hoạch Cảng hàng không Điện Biên

Các đơn vị liên quan rà soát, chuẩn xác số liệu, nhu cầu tái định cư liên quan đến nâng cấp cảng hàng không Điện Biên (bao gồm nhu cầu tái định cư trong phạm vi quy hoạch xây dựng nâng cấp Cảng hàng không Điện Biên và các đối tượng ảnh hưởng của tỉnh không sân bay) trên cơ sở Quy hoạch chung thành phố Điện Biên Phủ, Quy hoạch nông thôn mới các xã thuộc huyện Điện Biên và các quy hoạch, dự án liên quan, lập đề cương nhiệm vụ quy hoạch phân khu phía Tây Bắc gắn với Quy hoạch Cảng hàng không Điện Biên Phủ đồng thời lập đề cương nhiệm vụ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 để sắp xếp, bố trí tái định cư, tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ công tác tái định cư cho các đối tượng ảnh hưởng của việc nâng cấp Sân bay Điện Biên Phủ theo quy hoạch. Chủ động rà soát các chính sách để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về cơ chế bố trí kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng

II. Trên lĩnh vực văn hóa xã hội, xóa đói giảm nghèo

1. Về Giáo dục - Đào tạo: Tăng cường huy động trẻ em trong độ tuổi đến trường; chú trọng huy động số trẻ em thiệt thòi chưa được đến. Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo. Tiếp tục rà soát sắp xếp các trường lớp học và chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ năm học mới 2018-2019. Phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng, đặc biệt quan tâm nâng cao năng lực cho đội ngũ Hiệu trưởng về quản lý trường học. Duy trì, củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2; phổ cập giáo dục THCS mức độ 1; xóa mù chữ mức độ 1. Đẩy nhanh tiến độ phổ cập giáo dục THCS mức độ 2; phổ cập GDTH mức độ 3, xóa mù chữ mức độ 2.

2. Về Y tế - dân số: Xây dựng Kế hoạch hành động để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của BCH trung ương, khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới; Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy Về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của BCH trung ương đảng, khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

Tập trung thực hiện kiện toàn hệ thống tổ chức y tế, trọng tâm là xây dựng, thực hiện Đề án kiện toàn hệ thống tổ chức, mạng lưới ngành Y tế, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Tập trung thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh ở người, các hoạt động y tế thuộc Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số. Chú trọng các hoạt động: Phòng chống HIV/AIDS; Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; Dân số - KHHGĐ; Chăm sóc sức khỏe sinh sản nhằm giảm mắc 6 tai biến sản khoa, tử vong mẹ và tử vong trẻ em; triển khai tốt công tác tiêm chủng mở rộng; phòng chống các dịch bệnh không lây nhiễm. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và phục hồi chức năng. Đẩy mạnh việc thực hiện điều trị thay thế các chất gây nghiện bằng Methadone tại các cơ sở điều trị và cấp thuốc.

3. Về Văn hóa, thể thao và thông tin - truyền thông: Triển khai công tác chuẩn bị, ban hành các chương trình, kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 65 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5//1954-07/5/2019), 110 năm ngày thành lập tỉnh (28/6/1909-28/6/2019), 70 năm ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Điện Biên (10/10/1949-10/10/2019). Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Tiếp tục xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang và lễ hội. Tăng cường kiểm tra, thanh tra các hoạt động văn hóa thông tin trên địa bàn; hoàn thiện Đề án Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử quốc gia đặc biệt chiến thắng Điện Biên Phủ, gắn với du lịch đến năm 2025 báo cáo Bộ chính trị. Quản lý tốt và phát huy giá trị các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, chú trọng việc nâng cao chất lượng dịch vụ, phục vụ khách du lịch.

Trong lĩnh vực thông tin - truyền thông: Triển khai các đề án ứng dụng thông tin trong các ngành, lĩnh vực. Tổ chức thực hiện tốt các dịch vụ viễn thông công ích; rà soát, kiện toàn và nâng chất lượng phục vụ của hệ thống bưu điện văn hóa xã; mở rộng quy mô, nâng chất lượng dịch vụ và tổ chức quản lý tốt các dịch vụ Internet, thông tin điện tử.

4. Về Lao động, giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo: Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách thương binh, liệt sĩ, người có công; tổ chức tốt các hoạt động đền ơn đáp nghĩa nhân ngày thương binh, liệt sỹ. Thực hiện tốt các chính sách tiền lương, tiền công và bảo hiểm đối với người lao động; sắp xếp lại lao động trong các doanh nghiệp chuyển đổi. Đẩy mạnh thực hiện kế hoạch đào tạo nghề và xuất khẩu lao động, gắn công tác đào tạo nghề với giải quyết việc làm cho người lao động. Nâng cao năng lực trung tâm giới thiệu việc làm, tìm nhiều giải pháp để thực hiện mục tiêu về giải quyết việc làm, mục tiêu đào tạo nghề nông thôn, xuất khẩu lao động mở rộng liên kết để xúc tiến đưa lao động đi làm việc tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trong nước.

Hoàn thiện Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2018-2020 để tập trung lồng ghép các nguồn lực cho công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh. Trong đó tập trung phân tích đánh giá hộ nghèo theo tiêu chí để có giải pháp, chính sách phù hợp với tình hình thực tế đảm bảo phát huy hiệu quả công tác giảm nghèo.  

- Thực hiện tốt công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho nhân dân; công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm; quản lý, sử dụng kinh phí Chương trình mục tiêu y tế - dân số theo đúng quy định; đảm bảo cung ứng thường xuyên và đủ thuốc, vật tư hoá chất, sinh phẩm cho công tác khám chữa bệnh, phòng chống dịch và hoạt động y tế trên địa bàn; thực hiện chuyển đổi sử dụng một số loại vaccine phòng các bệnh của nước khác sản xuất nhưng phải đảm bảo hiệu lực phòng bệnh và độ an toàn như vacine cũ; tiếp tục tăng cường công tác đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ, chuyên môn cho cán bộ y tế cơ sở; quản lý hoạt động kinh doanh thuốc, hoạt động khám chữa bệnh tư nhân, chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone; nâng cao năng lực giám sát và thực hiện tốt các chương trình hỗ trợ giảm thiểu tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS.

5. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

- Nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục phổ thông, thông qua việc mở rộng quy mô giáo dục gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tổ chức đánh giá kết quả học tập chính xác, khách quan, mở rộng các môn học ngoại ngữ, tin học trong các trường tiểu học khi đã đủ điều kiện. Gắn học tập với thực hành phù hợp với đặc điểm và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán sản xuất của từng địa phương trong tỉnh.

- Triển khai có hiệu quả các Chương trình hành động thực hiện Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Điện Biên giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020. Tiếp tục đầu tư hoàn thiện cơ sở vật chất và chuẩn hóa đội ngũ giảng viên để nâng cao chất lượng đào tạo các trường chuyên nghiệp của tỉnh; Mở rộng các hình thức liên kết đào tạo với các trường đào tạo có uy tín. Mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động; xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo nguồn nhân lực.

III. Công tác tư pháp, xây dựng chính quyền, cải cách hành chính và thanh tra, phòng chống tham nhũng

1. Công tác tư pháp: Tiếp tục triển khai thực hiện và hoàn thiện thể chế pháp lý đối với công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL trên địa bàn tỉnh để phù hợp với Luật Ban hành VBQPPL năm 2015; Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/4/2016; nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng, ban hành, kiểm tra, rag soát, hệ thống hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu văn bản QPPL đảm bảo theo quy định của pháp luật, phù hợp với thực tế địa phương; Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, hoạt động trợ giúp pháp lý và thực hiện tốt các hoạt động bổ trợ tư pháp, thi hành án.

2. Xây dựng chính quyền và cải cách hành chính: Triển khai xây dựng Kế hoạch hành động và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy Về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCH trung ương, khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 16/3/2018 của Tỉnh ủy về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của BCH trung ương, khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ áy của hệ thống chính trị tinh gọn hoạt động hiệu lực, hiệu quả

Tiếp tục rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy tinh giản biên chế trên địa bàn tỉnh theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ chính trị. Rà soát điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của các sở ban ngành theo chức năng nhiệm vụ quy định mới của pháp luật. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu của các cơ quan chuyên môn và tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc của lãnh đạo tỉnh để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong việc xử lý công việc chuyên môn của từng ngành, từng cấp đảm tiến độ, chính xác, quyết liệt nhằm mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội cao nhất.

Đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy cơ quan hành chính Nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức; rà soát cắt giảm, sửa đổi, kiến nghị sửa đổi kịp thời các thủ tục hành chính không phù hợp. Tiếp tục hiện đại hóa nền hành chính, đổi mới phương thức điều hành của các cơ quan hành chính theo hướng mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin. Nâng cao chât lượng, hiệu quả hoạt động của cơ chế một cửa tại các cơ quan, đơn vị; tiếp tục mở rộng thực hiện cơ chế một cửa liên thông trên một số lĩnh vực. Đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, nhất là tuyển dụng và bổ nhiệm theo hướng công khai, minh bạch, có tiêu chí rõ ràng với từng vị trí công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan tuyển dụng. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và kỷ luật hành chính. Tiếp tục chấn chỉnh thực hiện tốt hơn chế độ thông tin báo cáo của các cơ quan, ban ngành của các địa phương.

3. Công tác thanh tra, phòng chống tham nhũng: Chủ động xây dựng và triển khai thực hiện tốt chương trình thanh tra theo kế hoạch; phối hợp chặt chẽ kịp thời phát hiện, xử lý các vụ việc phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân ngay từ cơ sở. Phát huy vai trò của nhân dân, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, của báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; có chính sách, biện pháp bảo vệ người dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

IV. Công tác dân tộc, tôn giáo

- Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện tốt các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số; triển khai đảm bảo tiến độ, hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tiểu dự án đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ cơ sở và cộng đồng

- Tiếp tục triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh về công tác tôn giáo; phối hợp với ban tôn giáo Chính phủ mở lớp tập huấn về tình hình tôn giáo, triển khai Luật tín ngưỡng tôn giáo và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật năm 2018.

- Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển ngành QLNN về tôn giáo giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn năm 2030; hoàn thiện đề án đánh giá tác động ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Mông. Tiếp tục phối hợp tuyên truyền luật tín ngưỡng, tôn giáo; tăng cường công tác QLNN về tôn giáo, nhất là ở cơ sở; Rà soát, thống kê, tổng hợp báo cáo đánh giá tình hoạt động của “Hội thánh Đức Chúa trời” trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục chỉ đạo các ngành, địa phương tăng cường nắm bắt tình hình cơ sở để phát hiện ngăn chặn kịp thời những diễn biên phức tạp liên quan đến công tác nhân quyền về tôn giáo trên địa bàn.

V. Quốc phòng - an ninh, đối ngoại

Các lực lượng vũ trang chủ động phối hợp chặt chẽ nắm chắc tình hình trên 2 tuyến biên giới và trong nội địa, bảo vệ an toàn các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội. Giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trên 2 tuyến biên giới, nhất là những vấn đề đang tiềm ẩn phức tạp như di cư tự do, tuyên truyền đạo trái phép, tội phạm hình sự, ma túy; đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội và chủ quyền biên giới quốc gia.

- Tổ chức tốt kế hoạch diễn tập khu vực phòng thủ UBND huyện Tuần Giáo, Mường Chà. Triển khai thực hiện tốt đợt cao điểm tấn công các loại tội phạm và ma túy; xây dựng địa bàn dân cư lành mạnh không có tệ nạn xã hội.

-  Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền về Dự án Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt; nắm bắt tình hình để phòng ngừa, ngăn chặn các đối tượng tụ tập biểu tình, gây rối.  

- Tiếp tục tăng cường quan hệ và tranh thủ nguồn hỗ trợ của các Đại sứ quán, các tổ chức nước ngoài theo đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Tổ chức tốt chương trình làm việc của các tổ chức quốc tế và các đoàn báo chí nước ngoài vào tỉnh theo chủ trương của Chính phủ. Chủ động phối hợp với các địa phương giáp biên giới của Lào và Trung Quốc để nắm tình hình, phối hợp đảm bảo an ninh trật tự biên giới.

Trên đây là báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2018 và nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2018, UBND tỉnh báo cáo trình HĐND tỉnh./.

 

 

Nơi nhận:

- Văn phòng Chính phủ;

- Các Bộ KH&ĐT, Tài chính;

- TT Tỉnh ủy- TT HĐND tỉnh;

-  LĐ UBND tỉnh;

- Các Sở: KH&ĐT, TC, KBNN tỉnh;

- UBND các huyện, thị xã, thành phố;

- LĐ VP , CV các khối;

- Lưu: VT, TH1.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

 

 

(Đã ký)

 

 

 

Mùa A Sơn

 

 

 

 

Chỉ đạo điều hành

Công khai gửi nhận văn bản

Tình hình giải quyết hồ sơ

°